GIỚI THIỆU

Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam

Đời sống cầu nguyện là phương thế thiết yếu cho đời sống chiêm niệm. Bởi thế, cuộc đời đan sĩ phải thấm nhuần tinh thần cầu nguyện[54]. Việc cầu nguyện được linh động bởi đức ái. Cầu nguyện như cứu cánh của tất cả những phương thế đặc thù đan tu Xitô.

 

Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam

 

 

1. Vài nét sơ lược về Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam

Hội dòng Xitô Thánh Gia xuất phát từ việc sáng lập đan tu tại Việt Nam, do cha đáng kính Henri Denis Biển Đức Thuận (1880-1933). Trong nhiều năm ngài thao thức lập dòng chiêm niệm cho nam giới. Và vào ngày 15-8-1918 ngài lập Tu Viện Phước Sơn tại Quãng Trị (lúc đầu gọi là Dòng Đức Bà Việt Nam), và được sáp nhập vào Dòng Xitô thế giới qua quyết nghị của Tòa Thánh ngày 24-5-1934 ; rồi được chính thức nâng lên bậc Hội dòng do quyết định của Thánh Bộ Tu sĩ và Tu hội đời ngày 6-10-1964[37]. Hội dòng có tên gọi là : Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam, bổn mạng Thánh Gia Thất.

 

2. Tôn chỉ và mục đích đời đan tu Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam

 

a. Tôn chỉ đời đan tu Xitô Thánh Gia
Trong Hiến pháp và Tuyên ngôn Hội dòng Xitô Thánh Gia minh định rằng : “Theo tinh thần Tổ phụ Henri Denis Benoit, cuộc sống đan tu Xitô Thánh Gia là một đời tận hiến chuyên về chiêm niệm, thể hiện sự thông phần mầu nhiệm Thánh giá, tuyên xưng sức mạnh và hoan lạc của ơn Phục sinh”[38]. Vì chuyên về chiêm niệm, các đan sĩ Xitô Thánh Gia không ra hoạt động ở bên ngoài. Sinh hoạt hàng ngày chỉ trong khuôn viên đan viện hay còn gọi là trong nội vi đan viện[39]. Khi có lý do đặc biệt mới được phép ra khỏi đan viện[40].

“Đan sĩ Thánh Gia làm chứng tá tình yêu Thiên Chúa giữa nhân loại bằng sự thông hiệp với Chúa Giêsu Cứu Thế, trong hy sinh thầm lặng và lời cầu nguyện tha thiết để cứu giúp những người chưa nhận biết Chúa”[41]. Vì là Dòng chiêm niệm, nên cuộc sống của các đan sĩ phải giữ luật thinh lặng nghiêm nhặt, không được nói chuyện, trừ khi cần : “Thinh lặng là yêu sách đời chiêm niệm. Vì thế, đan sĩ suốt ngày sống trong thanh vắng và giữ thinh lặng, đặc biệt từ giờ kinh tối đến sau kinh sáng, khi thật cần kíp mới nên nói đôi lời”[42]. Việc giữ thinh lặng cốt để cho các đan sĩ dễ dàng kết hợp với Chúa, cầu nguyện cho Giáo hội, đặc biệc cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa được trở về với Chúa[43]. Để cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa, ngoài việc hy sinh thường ngày của các đan sĩ, mỗi ngày có một đan sĩ đại diện cho cộng đoàn chầu Thánh Thể một giời, lần hạt một chuỗi năm mươi, đi đàng Thánh giá một lần và dâng các việc hy sinh trong ngày cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa. Và hàng tháng vào ngày 15, cả cộng đoàn Chầu Thánh Thể để cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa[44].

 “Đời tu Hội dòng Thánh Gia được tổ chức theo truyền thống đan tu chân chính, như đã được kết tinh trong luật thánh tổ Biển Đức và tinh thần Xitô sơ khởi, theo trí ý Đấng sáng lập Hội dòng[45]. Thực vậy, linh đạo Xitô Thánh Gia dựa trên tinh thần Xitô nguyên thủy, dựa trên tinh thần các Đấng tổ phụ Xitô. Tinh thần Xitô nguyên thủy và các Đấng tổ phụ như thế nào ? Đó là lòng mộ mến tìm lại sự nguyên tuyền của tu luật Biển Đức. Không phải giữ luật theo mặt chữ, nhưng tôn trọng bản văn vì nó hàm chứa tinh thần Đấng lập luật[46]. Cẩn thận đối chiếu tu luật với toàn thể truyền thống đan tu, và không ngần ngại tham chiếu tư tưởng các tổ phụ rừng vắng[47]. Tìm vào hoang địa, nhưng không chủ trương loại bỏ đời sống chung. Trái lại, rất tha thiết với cuộc sống huynh đệ, bác ái. Việc này không những được thi hành từ ban đầu trong các đan viện như đặc tính của tổ chức cộng tu, mà còn thể hiện bằng sự hiệp nhất giữa các đan viện trong toàn Dòng[48]. Điều này cũng được thể hiện qua những chỉ thị của Hiến chương Bác ái của Dòng. Các ngài cũng sùng mộ nếp sống đơn sơ khó nghèo, sống cuộc đời khắc khổ, luôn chiêm ngưỡng nội tâm. Tha thiết với việc tôn kính Đức Mẹ. Không bao giờ tách rời mầu nhiệm Mẹ Thiên Chúa khỏi chương trình cứu rỗi. Bởi thế, các đan viện Xitô Việt Nam thường đặt tên Maria trước tên đan viện mình cũng như trước tên thánh của một đan sĩ. Ví dụ đan viện Thánh Mẫu Phước Sơn, Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn, đan viện Thánh Mẫu Châu Thủy ; đan sĩ Maria Phêrô Nguyễn Văn B.
 
b. Bản chất và mục đích đan tu Xitô Thánh Gia
Mục đích của Hội dòng Xitô Thánh Gia là[49] :

- Cung cấp cho các linh hồn được Chúa mời gọi sống đời chiêm tu, những phương thế thích hợp để đạt tới đức ái hoàn hảo.

- Phục vụ Giáo hội bằng đời sống cầu nguyện và hy sinh, tham gia việc cứu rỗi các linh hồn chưa nhận biết Chúa và tôn thờ Thiên Chúa.

- Sinh hoạt đan tu trong Hội dòng được tổ chức theo các nguyên tắc Tin Mừng, được trình bày trong giáo huấn Giáo hội, trong tu luật thánh Biển Đức, trong các yếu tố căn bản của đời tu Xitô, đồng thời theo tinh thần của Đấng sáng lập đã được vạch ra trong bản Hiến pháp của Hội dòng.
 

3. Những nét căn bản đời đan tu Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam

Ngoài việc tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm[50], đời sống Hội dòng Xitô Thánh Gia được thể hiện qua những yếu tố căn bản của đời đan tu sau đây :

- Cách biệt xã hội : nội vi và thing lặng.

- Đời sống cầu nguyện : đọc sách thiêng liêng và cử hành phụng vụ.

- Khổ chế : chay tịnh và canh thức.

- Đời sống chung : cộng tu.

- Lao động đan tu.

Hay nói một cách tóm gọn, linh đạo Xitô Thánh Gia là đời sống chiêm niệm, đời sống cầu nguyện và lao động (Ora et Labora), bắt nguồn từ tinh thần thánh Biển Đức, truyền thống Xitô nguyên thuỷ và Đấng sáng lập : cha Henri Denis Biển Đức Thuận.

+ Thanh vắng và thinh lặng là những điều kiện thiết yếu giúp người đan sĩ đi vào chiều sâu của sự chiệm niệm, để lắng nghe tiếng Chúa. Việc tìm Chúa trong cô tịch và trầm lặng của đời đan tu là một chứng từ hùng hồn về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Cho nên sự thanh vắng và thinh lặng có một tầm quan trọng trong đời đan tu. Bởi vậy, thánh Biển Đức và các “phong trào cải cách đan tu” đều nhấn mạnh đến việc trở về “linh đạo sa mạc”, linh đạo các tổ phụ rừng vắng. Đối với Xitô Việt Nam, linh đạo sa mạc ấy được cụ thể hoá qua luật nội vi và trong việc lập Dòng mới ở những nơi xa cách thành thị. Tất cả các đan sĩ đều có trách nhiệm tuân thủ và bảo vệ luật nội vi[51]. Khi có lý do thật chính đáng mới được phép ra ngoài nội vi[52]. Các cuộc xuất hành như thăm viếng cha mẹ, thân nhân, cũng như giao dịch qua thư từ, v.v…, đều phải chiếu theo tinh thần và đòi hỏi của lý tưởng chiêm niệm qui định. Việc xa lìa trần gian và sự thinh lặng nghiêm nhặt cốt giúp cho các đan sĩ “dễ thực hiện và duy trì sự an tĩnh nội tâm, để có thể chứng nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Việc thinh lặng là yếu tố cần thiết để bảo vệ tinh thần cầu nguyện, bảo vệ kỷ luật và trật tự trong sinh hoạt cộng đoàn. Tuy nhiên, sự tĩnh mịch và thinh lặng bên ngoài chỉ có ý nghĩa và giá trị, nếu các đan sĩ biết giữ lòng mình khỏi mọi xao xuyến của đam mê trần tục, biết kiến tạo bình an tâm hồn và dõi theo sự bình an đó”[53]

+ Đời sống cầu nguyện là phương thế thiết yếu cho đời sống chiêm niệm. Bởi thế, cuộc đời đan sĩ phải thấm nhuần tinh thần cầu nguyện[54]. Việc cầu nguyện được linh động bởi đức ái. Cầu nguyện như cứu cánh của tất cả những phương thế đặc thù đan tu Xitô. Đời sống cầu nguyện theo thánh Biển Đức hàm chứa bốn hình thức :

- Cầu nguyện liên tục, nghĩa là sống trước mặt Chúa mọi nơi mọi lúc (x. tu luật chương7).

- Đọc sách kèm theo suy niệm (Lectio Divina (x. tu luật chương 48,49,52).

- Kinh nguyện phụng vụ (x. tu luật chương 8-9).

- Cầu nguyện tự phát tuỳ theo hoàn cảnh (x. lời mở tu luật và chương 53).

Vì đan sĩ không lấy gì hơn việc thờ phượng[55], nên kinh nguyện phụng vụ chiếm một địa vị độc đáo trong đời đan tu Xitô Thánh Gia. Phụng vụ là trọng tâm, vì biện chứng cho sự siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa[56]. Bởi đó, phụng vụ và các kinh nguyện chung nơi các đan viện Xitô Thánh Gia luôn được chú trọng và cử hành cách trang trọng[57]. Hiện giờ, mỗi ngày các đan viện Xitô Thánh Gia dành tám giờ cho việc cử hành thần vụ và các việc thờ phượng.

+ Đời sống khổ chế là nét đặc thù của đời sống đan sĩ Xitô Thánh Gia. Tuy nhiên, các đan sĩ Xitô không ham mộ những kiểu hãm mình phạt xác như nơi một số trào lưu ẩn tu hồi xưa : đánh tội, mặc áo nhặm… Việc hãm mình nơi các đan sĩ Xitô Thánh Gia được thể hiện qua việc hy sinh quảng đại, hoàn thiện bản thân[58], tập luyện thân xác như dậy sớm, chay tịnh, nhất là làm việc xác được thi hành triệt để. Qua thực hành khổ chế này, người đan sĩ muốn chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô chay tịnh, thức khuya, cầu nguyện, lao động vất vả, chịu hy sinh sĩ nhục, v.v… Khổ chế đóng vai trò không nhỏ trong kinh nguyện và vấn đề ăn uống[59]. Vì thế, người ta hay gọi Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam là Dòng “khổ tu”. Việc khổ chế không ngoài mục đích là tạo thế quan bình giữa tâm linh và thể chất. Giải thoát con người và phát huy đức mến[60]. Hỗ trợ tiến trình tìm Chúa trong chiêm niệm. Tham gia vào việc khổ nạn cứu thế của Chúa Kitô. Khổ chế trong linh đạo Xitô Thánh Gia thực ra không có gì quá khắc khổ, như thánh Biển Đức nói trong tu Luật : Nếu có chút gì hơi nghiêm ngặt, thì chỉ có mục đích khắc phục nết xấu và bảo toàn đức ái[61].

+ Sống chung là một nét nổi bật trong đời sống đan tu Xitô nói chung, Xitô Thánh Gia nói riêng. Đời sống chung này được bắt nguồn từ tinh thần thánh Biển Đức. Thánh Biển Đức phát huy nếp sống cộng đoàn. “Đời sống cộng đoàn bao hàm : kinh nguyện chung, làm việc chung, bàn ăn chung. Mọi sự là của chung, và được viện phụ như người cha điều khiển cộng đoàn. Đời sống cộng đoàn đòi hỏi các đan sĩ tham dự các giờ chung một cách điều hòa đúng đắn với tâm hồn phấn khởi vui tươi”[62].

+ Lao động đan tu Xitô Thánh Gia là để tự lập cánh sinh. Lao động để có điều kiện phục vụ xã hội : lữu khách, người nghèo. Lao động để tạo thế quan bình tâm thể lý và phát triển tài năng. Lao động phòng ngừa tật xấu và rèn luyện nhân đức. Lao động tham gia công trình cứu thế. Lao động để tham gia công trình sáng tạo, thánh hiến vũ trụ. Lao động là một hình thức thực thi đức khó nghèo và là phương thế phục vụ anh em[63].

Để thực hiện những yếu tố trên, ngoài lời khấn Vâng phục, Khiết tịnh, Khó nghèo, các đan sĩ Xitô Thánh Gia còn có thêm lời khấn Vĩnh cư[64] và lời khấn Canh tân[65] nữa. Vì theo thánh Biển Đức, hai lời khấn này là yếu tố quan trọng để duy trỳ đời sống chiêm niệm và thăng tiến đời sống cộng tu vốn được coi là phức tạp nhưng anh dũng nhất[66].
 

4. cơ cấu và tổ chức đời sống đan tu Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam

Hội dòng Xitô Thánh Gia được tổ chức theo cơ cấu của một gia đình. Bởi vậy, Hội dòng đã lấy mẫu gương Thánh Gia làm khuôn mẫu để tổ chức đời sống mình. Điều này trong Tuyên ngôn Hội dòng số 20 xác định : “Cộng đoàn đan viện thực sự là một gia đình, tất cả đan sĩ là con một Cha trên trời, và là anh em với nhau, cùng có một ơn gọi, cùng chia sẽ một cuộc sống trong sự hợp nhất”. Vì được tổ chức như một gia đình nên vị đứng đầu đan viện thường được gọi là viện phụ[67], là người cha trong gia đình đan viện. Viện phụ là hiện thân tình yêu của Cha trên trời, là người thế quyền Chúa Kitô, là người có trách nhiệm điều khiển về sinh hoạt tinh thần và vật chất trong đan viện, là trung gian giúp các đan sĩ tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa[68]. Viện phụ do Hội đồng đan sĩ[69] bầu lên bằng phiếu kín[70]. Nhiệm kỳ viện phụ là mười năm, viện trưởng là sáu năm. Cả hai có thể tái đắc cử. Đến bảy mươi tuổi trọn thì mãn nhiệm[71]. Điều kiện để làm viện phụ hay viện trưởng : Ba mươi lăm tuổi, đan sĩ linh mục, đã khấn trong Hội dòng ít là mười năm từ ngày khấn trọng[72]

Thành phần Hội dòng Xitô Thánh Gia gồm có : Đan viện Phước Sơn, các nhà con của Phước Sơn và các đan viện do các nhà này thiết lập. Các đan viện khác xin gia nhập Hội dòng, miễn là chấp nhận Hiến Pháp của Hội dòng. Ngoài ra nữ đan viện Thánh Mẫu Vĩnh Phước và các nhà xuất phát từ đan viện này cũng được sát nhập vào Hội dòng một cách trọn vẹn[73]. Tuy nhiên, các nữ đan viện này có bản Hiến pháp riêng[74].

Theo truyền thống Xitô, các đan viện trong Hội dòng Thánh Gia liên kết với nhau bằng tình mẹ con. Bởi vậy, một đan viện lập một nhà khác sẽ được gọi là Nhà mẹ, còn đan viện kia sẽ được gọi là Nhà con. Viện phụ của nhà sáng lập trong tương quan với Nhà con được gọi là trực phụ[75] (Pater immediatus). Trực phụ (viện phụ Nhà mẹ) do cộng đoàn Nhà mẹ và các bề trên Nhà con bầu lên. Trực phụ có quyền và nhiệm vụ đối với Nhà con với những nố sau : “Bảo đảm tinh thần và vật chất cho Nhà con tùy thuộc. Chỉ định hoặc thay đổi bề trên Nhà con cho đến khi được tự trị. Vì lý do chính đáng, tạm thời đảm nhiệm chức vụ bề trên Nhà con cho đến khi có bề trên mới, nếu ngay cả việc đặt một vị giám quản cũng không thể thực hiện được. Chủ tọa việc bầu bề trên Nhà con và phê nhận việc đắc cử. Hai năm một lần đích thân hay cử đại diện đi tuần viếng Nhà con. Có quyền liên lạc thư từ với hết mọi người Nhà con mà không ai có quyền kiểm soát[76]

Tổng hội của Hội dòng có quyền tối cao trong Hội dòng, là cơ quan trung ương, có quyền lập pháp, tư pháp, và hành pháp[77]. Dưới Tổng hội là viện phụ Hội trưởng (Abbas praeses), giữ quyền tối cao điều khiển Hội dòng, đảm trách việc Hội dòng trước thế quyền cũng như thần quyền theo quy định của Hiến pháp[78]. Ngài có quyền chấp nhận thay đổi Lời Khấn Vĩnh Cư trong Hội dòng. Chuẩn lời khấn tạm. Kinh lý các nhà trong Hội dòng cứ ba năm một lần và một số quy định khác[79].. Đó là một vài yếu tố chính trong cơ cấu tổ chức đan viện cũng như Hội dòng Xitô Thánh Gia.
 

* Hướng nhìn cá nhân

Linh đạo nào cũng có một đường hướng riêng để đáp ứng nhu cầu mới của thời đại nhằm tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ con người. Điều đó được hiện rõ trong tiến trình hình thành những linh đạo qua dòng lịch sử. Khi nhìn lại sự hình thành, sự phát triển cũng như cách thể hiện linh đạo của các vị tiền bối Xitô, chúng tôi rất cảm phục và hãnh diện, vì các ngài đã làm nên nhiều điều kỳ diệu và hữu ích cho Giáo hội cũng như xã hội. Ngày hôm nay chúng tôi là những con cháu, đang tiếp nối linh đạo mà các vị tiền bối đã sống, chúng tôi không thể không ưu tư về linh đạo của Dòng mình. Làm thế nào để linh đạo Dòng mình có thể sống động với con người trong hoàn cảnh xã hội hôm nay. Làm thế nào để thể hiện linh đạo của Dòng mình một cách hiệu quả nhất cho những thách đố hôm nay. Đây là những vấn đề được đặt ra cho mọi thành viên của Hội dòng. Mỗi thời đại có một khuynh hướng sống, có những thách đố, có những ưu khuyết điểm. Chắc chắn thời nay khác với thời các vị tiền bối. Xã hội hôm nay có nhiều thách đố, nhưng chúng tôi chỉ đưa một vài vấn đề để suy nghĩ. Và ước mong linh đạo Dòng mình đáp ứng được phần nào trong tương lai chăng ?

Với đà tiến của khoa học hiện đại, người ta hình như quá bận rộn với công ăn việc làm. Đầu óc họ luôn luôn bị căng thẳng bởi nếp sống công nghiệp hóa. Họ có ít thời giờ dành cho việc thờ phượng và bồi bỗ tâm linh. Bởi vậy, có được một nơi yên tĩnh, một nơi bình an là rất cần thiết để họ lấy lại thế quân bình sau những ngày tháng mệt nhọc với công việc. Ai có thể đáp ứng nhu cầu ấy, đó phải chăng là các đan viện Xitô Thánh Gia ? Vâng, thiết nghĩ, các đan viện chúng tôi phải là nơi có bầu không khí yên tĩnh, là nơi lý tưởng thực sự để đáp ứng nhu cầu đó, vì đó là linh đạo của Dòng mình. Nhưng làm thế nào để cuốn hút người ta đến với mình, đó là vấn đề khó. Thực tế, các đan viện chúng tôi cũng có khách tĩnh tâm liên tục, nhưng khi so với số lượng khách đến các thiền viện Phật giáo như Thường Chiếu, Trúc Lâm chẳng hạn, thì các đan viện chúng tôi còn thua kém. Chúng tôi đang băn khoăn làm thế nào để các đan viện trở thành những trung tâm tĩnh nguyện, những nơi an lành hấp dẫn để đáp ứng nhu cầu tâm linh của xã hội hôm nay.

Con người hôm nay vốn nhàm chán những cung cách cầu nguyện. Các đan viện chuyên về phụng vụ, đáng lẽ phải là nơi khởi xướng những cung cách cầu nguyện sống động, để đáp ứng đòi hỏi tâm thức của con người thời đại. Nhưng thật khó, vì vướng đến “chữ đỏ” của phụng vụ Giáo hội. Các đan viện Thánh Gia chuyên về ca hát, nhưng thực tế các đan sĩ góp phần vào lĩnh vực thánh nhạc cho Giáo hội Việt Nam còn rất khiêm tốn. Đáng lẽ các đan sĩ phải góp phần tích cực hơn nữa trong lĩnh vực này, vì là “nghề của mình”. Việc khiêm tốn này một phần do các đan sĩ không được đào sâu về vấn đề âm nhạc, một phần có lẽ do quan niệm Dòng chiêm niệm không được đi ra ngoài hoạt động.

Trong quá khứ, các đan sĩ Xitô thường là những nhà trí thức. Các ngài đã có công chú giải Thánh Kinh và viết nhiều tác phẩm có giá trị về đời sống thiêng liêng, v.v… Vì thế, các đan viện Xitô thường có thư viện chứa nhiều loại sách quý phục vụ cho lãnh vực trí thức Giáo hội. Sở dĩ các ngài làm được như vậy là bởi họ biết sống triệt để linh đạo của mình, biết lợi dụng bầu khí thinh lặng để đọc sách, tìm tòi nghiên cứu, cầu nguyện, v.v… Còn các đan sĩ Xitô Thánh Gia hôm nay thế nào ? Cả Hội dòng đếm được bao nhiêu người thuộc diện “trí thức” ? Các đan sĩ Xitô đã viết được bao nhiêu sách có giá trị ? Lên được bao nhiêu trang Web để truyền đạt những kinh nghiệm về tâm linh, về kiến thức để phục vụ Giáo hội ? Có lẽ còn rất khiêm tốn. Chúng tôi thiết nghĩ, việc nghiên cứu, viết lách là công việc rất thích hợp với linh đạo chiêm niệm, vì các đan sĩ có nhiều giờ suy niệm, có bầu khí an bình và thinh lặng để làm những chuyện này. Còn các Dòng hoạt động còn phải bận bịu với bao nhiêu công việc mục vụ. Có thời giờ nghiên cứu, viết sách là một vấn đề khó khăn, nhất là trong thời buổi công nghiệp hiện đại này.

Đó là một vài thách đố đối với các các đan sĩ nói chung, cách riêng với các nhà đào tạo của từng đan viện Xitô Thánh Gia hôm nay. Làm thế nào để huấn luyện, đào tạo những đan sĩ có nhiều khả năng thể hiện linh đạo của Dòng một cách có hiệu quả trong thời buổi hôm nay để đáp ứng như cầu của thời đại.
 
Louis Gonzaga Hoàng Luật và Ignatio Trần Thanh Toàn, OC.