GIỚI THIỆU

TĨNH HUẤN DÀNH CHO BAN HUẤN LUYỆN HỘI DÒNG XITÔ THÁNH GIA - Mai Thi

Mục đích của cuộc tĩnh huấn là dịp gặp gỡ, chia sẻ, cùng nhau cầu nguyện để định hướng cho việc huấn luyện của Hội Dòng. Cuộc tĩnh huấn của những vị phụ trách huấn luyện cũng là một khởi đầu mới cho việc huấn luyện chung của Hội Dòng dưới sự soi sáng, chúc lành của Chúa.

 

  TĨNH HUẤN

DÀNH CHO BAN HUẤN LUYỆN HỘI DÒNG XITÔ THÁNH GIA

 

Hướng tới kỷ niệm mừng Bách chu niên - ngày Cha Tổ phụ Biển Đức Thuận lập dòng (15 tháng 8 năm 1918 – 15 tháng 8 năm 2018), Hội dòng Xitô Thánh Gia đã tổ chức khóa tĩnh huấn cho ban huấn luyện Hội dòng. Tham dự tuần tĩnh huấn có hơn 40 anh chị em trong ban huấn luyện các khối: Kinh viện, Học viện, Tập viện, Thỉnh viện, đến từ 11 cộng đoàn Xitô trên khắp đất Việt. Các thành viên trong ban huấn luyện đã qui tụ tại Đan Viện Phước Sơn từ ngày 6 – 9/ tháng Giêng năm 2016 để trao đổi và học hỏi đề tài: “NOI GƯƠNG CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN, CÁC ĐAN SĨ XITÔ THÁNH GIA SAY MÊ THIÊN CHÚA”. Sau đây là ngày làm việc đầu tiên của tuần tĩnh huấn (6/1/2016).

 

 

  1. BUỔI SÁNG

Thánh lễ khai mạc tuần tĩnh huấn cầu xin ơn Chúa Thánh Thần do Viện Phụ Hội Trưởng Gioan Thánh Giá Lê Văn Đoàn chủ sự, cha tập sư Gioan Phạm Văn Hưng, thuộc Đan viện Châu Sơn Nho Quan chia sẻ Lời Chúa.

*** Bài giảng trong thánh lễ (cha Gioan Phạm Văn Hưng)

(Bài đọc: 1Cr 12, 3b-7.12; Ga 20, 19-23: Chúa Thánh Thần ngọn lửa tình mến)

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ! Đời sống thánh hiến đan tu, tự bản chất, ơn gọi sống đời thánh hiến này là ơn gọi nên thánh; kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, đi theo Chúa Giêsu, bắt chước Chúa Giêsu nghèo khó, thanh khiết và vâng phục, với tình yêu dành cho các linh hồn – những người chưa nhận biết Chúa sớm trở về tin yêu Chúa và đạt được đức ái hoàn hảo (x. HP 2). Vị thầy hướng dẫn và giúp chúng ta biến đổi để trở nên giống Chúa Giêsu chính là Chúa Thánh Thần, Đấng phát xuất từ Chúa Cha, được sai đến để giúp đỡ chúng ta (x. Ga 15, 26). Và sẽ làm cho chúng ta nhớ lại và hiểu biết tất cả những gì Đức Giêsu đã truyền dạy (x. Ga 14, 26). Chính nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, cuộc đời chúng ta được thánh hóa và chúng ta được trở nên thánh (x. Ga 20, 22-23).

Qua kinh nghiệm cho ta biết, huấn luyện và được huấn luyện một con người trở thành một Đan sĩ Chiêm niệm đích thực là một việc huấn luyện cam go, trường kỳ, đòi hỏi có nhiều ơn Chúa Thánh Thầngương sáng của mọi thành viên trong cộng đoàn.

  1. Cần ơn của Chúa

Trước hết, mỗi người đều cần ơn Chúa Thánh Thần. Với đức tin, mỗi khi chúng ta khởi sự bất cứ một công việc gì dù nhỏ to đều cần cầu xin ơn Chúa Thánh Thần, để Ngài ban ơn phù trợ và thánh hóa.

Hôm nay, trong Hội Dòng chúng ta bắt đầu cho cuộc Tĩnh huấn thứ nhất của Nhóm một dành cho Ban huấn luyện – Ban Giám đốc Học viện Triết và Thần trong năm I của ba năm chuẩn bị mừng Bách Chu Niên thành lập Hội Dòng do Cha đáng kính Henri Denis – Biển Đức Thuận sáng lập. Khởi đi từ Thánh lễ kính Chúa Thánh Thần cho cuộc Tĩnh huấn này. Chúa Thánh Thần là thầy dạy tuyệt hảo trong Giáo Hội: của đời sống làm người kitô hữu, trong đời sống con người sống đời thánh hiến đan tu làm con Chúa. Con người muốn truy tầm sự khôn ngoan đạt tới tầm vóc viên mãn cần phải có Chúa Thánh Thần, chính Ngài là thầy dạy sự khôn ngoan. Ta muốn noi theo gương Cha Tổ phụ “say mê Thiên Chúa” ta càng cần có ơn Chúa Thánh Thần ngọn lửa tình mến.

Chúng ta hãy suy chiêm Chúa Giêsu trong đời sống ẩn dật và công khai của Ngài sẽ thấy Chúa Thánh Thần luôn luôn tác động trên Ngài, đặc biệt trong những biến cố quan trọng, như khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giorđan, như khi Chúa Giêsu vào sa mạc và biến cố ma quỉ cám dỗ, như khi cất bước trên những nẻo đường khắp các làng mạc Palestin rao giảng Tin Mừng. Nhờ chính Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã hoàn tất Sứ Mạng Cứu Thế qua cái chết và phục sinh của Ngài.

Đọc trong Sách Công vụ Tông đồ chúng ta biết Thánh Luca đã trình thuật việc Chúa Thánh Thần xuống trên các Tông đồ giống như Gió thổi và như lưỡi Lửa làm cho các Tông đồ nói được nhiều thứ tiếng và mạnh dạn, can đảm ra đi rao giảng Tin Mừng; đồng thời mọi người thuộc các ngôn ngữ khác nhau cũng đều hiểu được lời rao giảng của các Tông đồ. Ân sủng của Chúa Thánh Thần, tái lập sự thống nhất ngôn ngữ đã bị chia rẽ tại tháp Babel ngày xưa, và cũng nói lên tính phổ quát đại đồng của ơn cứu độ do Chúa Giêsu đến thực hiện bởi ơn Chúa Thánh Thần.

Trong việc huấn luyện từng giai đoạn và trường kỳ của đời sống thánh hiến đan tu trở nên những Đan sĩ thuộc về Đức Kitô. Ta cần phải theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô đã xác tín cho chúng ta trong bài đọc I rằng: Dù có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa Thánh Thần. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhiều hoạt động khác nhau nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Và thánh Phaolô còn nhấn mạnh trong thư gửi giáo đoàn Rôma 8,6 rằng: hướng theo Thánh Thần là hướng theo sự sống và bình an. Sự Sống và Bình An của Đức Kitô phục sinh được ban cho các Tông đồ mà thánh Gioan đã trình thuật trong bài Phúc Âm là chính Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần được ban cho Giáo hội ngày nay và cho các Tông đồ xưa là chính Chúa Thánh Thần bởi Đức Kitô phục sinh qua dấu chỉ thổi hơi và ban Bình An. Chúa Thánh Thần là Nguồn Ân Sủng nối tiếp công trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là Dũng khí siêu nhiên từ Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là Ngọn Lửa Tình Mến cháy mãi của Thiên Chúa. Mọi công trình tiếp nối sứ vụ của Chúa Kitô đều do Chúa Thánh Thần. Vì thế, ngày chúc Bình An sau khi Phục Sinh, Lời ban Thánh Thần của Chúa Giêsu là một “cộng hưởng” của công trình cứu độ nhân loại bởi Thiên Chúa. Sự yêu thương, cứu chuộc ban tặng Thánh Thần cho nhân loại qua các Tông đồ của Chúa Giêsu là một công trình Cứu Chuộc duy nhất bởi Thiên Chúa mà ra.

Muốn sống theo Chúa Thánh Thần, ta hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu. Sống tâm tình Chúa Giêsu. Chúng ta ước muốn trở nên giống Ngài, để có thể đi vào tâm tình hiếu thảo của Chúa Giêsu, trong cầu nguyện, trong khó nghèo, trong tuân phục, trong khiêm nhu và phục vụ với tình huynh đệ, xả thân của Chúa Giêsu đối với Cộng đoàn và mọi người.

  1. Môi trường cộng đoàn – Gương lành

Chúng ta không dễ dàng tìm thấy một bậc thầy uyên thâm có dày dạn kinh nghiệm trong nghệ thuật huấn luyện thiêng liêng như Cha Thánh Biển Đức hay Cha Tổ Phụ Henri Denis – Biển Đức Thuận của chúng ta. Các ngài là những con người say mê Thiên Chúa. Tất cả đời sống của các ngài đã thấm nhuần bởi ơn Chúa Thánh Thần. Đọc Thánh Luật Biển Đức chúng ta thấy khoa sư phạm cẩn trọng và sự quân bình được nổi bật. Sự quân bình đó được thể hiện trong cách xếp đặt sinh hoạt cộng đoàn. Ba phận vụ chính: Thần vụ, lao tác – học vấn, nghỉ ngơi chiếm một số giờ ngang nhau trong ngày sống của Đan sĩ. Nhờ sự cẩn trọng, cha thánh Biển Đức đã giúp các Đan sĩ tránh được mọi thái quá cũng như bất cập trên đường tu. Ngài thiết lập đan viện như là một trường học phụng sự Thiên Chúa. Môi trường đan viện là môi trường thuận lợi nhất để Đan sĩ học hỏi và giúp nhau biết cách sống trọn lành. Trong chương 7 bậc khiêm nhường thứ 8 Cha Thánh Biển Đức nhấn mạnh: trong đan viện, Đan sĩ không làm gì ngoài luật chung và gương lành của các bậc Trưởng thượng. Tất cả mọi chi tiết của Tu luật là nhằm đào tạo Đan sĩ biết cách sống đúng và sống đẹp lý tưởng đan tu. Chính như thế, Cha Tổ Phụ ngài đã xác tín qua lời giáo huấn số 31: “Muốn nên thánh phải giữ Luật dòng”. Ở số 50 với lời trối của ngài: Đàng nhân đức là tuân theo ý Chúa, mà theo thánh ý Chúa là giữ Luật dòng cho trọn. Vậy muốn nên thánh, thì hãy giữ luật dòng. Con người và đời sống của Cha Tổ Phụ luôn tìm ý Chúa và vâng phục thánh ý Chúa. Qua lời giáo huấn số 8 ta thấy sự mến Chúa phát xuất từ sâu thẳm trong cõi lòng, lấy Chúa làm tốt, và ưng làm vui lòng Chúa luôn. Cha Tổ Phụ là người say mê Thiên Chúa. Luôn nương theo Chúa Thánh Thần. Do đó ta có thể nói con người và cuộc đời của ngài là:  “Tất cả cho Thiên Chúa”.

Noi gương Cha Tổ Phụ say mê Thiên Chúa, ta cần thâm tín việc huấn luyện chỉ có kết quả nếu tất cả mọi thành viên từ bậc trưởng thượng, các vị huấn luyện và người được huấn luyện đều nương theo dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, không ngừng mô phỏng theo Chúa Giêsu  là mẫu gương, là đường dẫn đến Thiên Chúa, vì chính Ngài trong khoảng 30 năm tại Nazaret đã “sống triệt để đời đan tu” trong cầu nguyện, thinh lặng, làm việc, khổ chế, và chỉ khát mong thi hành thánh ý Chúa Cha để biểu lộ lòng thương xót cho nhân loại.

Xin Đức Mẹ chở che phù giúp; Mẹ chỉ đàng lành con đạt tới đích. Amen.

*****

Sau thánh lễ, các thành viên tham dự khoá tĩnh huấn cùng cộng đoàn Phước Sơn viếng lăng và dâng hương kính Cha Tổ phụ - Henri Biển Đức Thuận.

Lúc 8giờ, tại phòng hội của nhà khách Đan viện, Viện phụ Hội Trưởng khai mạc cuộc tĩnh huấn. Ngài nhấn mạnh đến mục đích của cuộc tĩnh huấn là dịp gặp gỡ, chia sẻ, cùng nhau cầu nguyện để định hướng cho việc huấn luyện của Hội Dòng. Cuộc tĩnh huấn của những vị phụ trách huấn luyện cũng là một khởi đầu mới cho việc huấn luyện chung của Hội Dòng dưới sự soi sáng, chúc lành của Chúa.

 

*** Chương trình chung cho những ngày tĩnh huấn

Gồm hai phần:

Phần I: hai ngày tập chú vào chủ đề năm I: say mê Thiên Chúa.

  • Kinh nghiệm cá nhân say mê Thiên Chúa (ngày I)
  • Với tư cách là người đào tạo, làm sao để giúp anh chị em say mê Thiên Chúa (ngày II).

Phần II (ngày 3):

  • Buổi sáng: trao đổi với cha Tổng Phụ dòng Xitô;
  • Buổi chiều: làm việc riêng để đưa ra phương án tăng cường việc huấn luyện.

Tiếp sau lời giới thiệu của các cộng đoàn về thành viên tham dự tuần tĩnh huấn, Viện Phụ Hội Trưởng Gioan Thánh Giá Lê Văn Đoàn chào đón các thành viên tham dự, sau đó ngài gợi ý chia sẻ với hội nghị.

Dưới đây là nguyên văn bài chia sẻ của Viện Phụ Hội Trưởng:

“NOI GƯƠNG CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN,

CÁC ĐAN SĨ XITÔ THÁNH GIA SAY MÊ THIÊN CHÚA”

Duyên Thập Tự Lê Văn Đoàn, Viện Phụ Hội Trưởng

Anh chị em thân mến,

Nhân dịp cuộc tĩnh huấn dành cho các thành viên ban huấn luyện trong các cộng đoàn, xin được chia sẻ một vài suy nghĩ gợi ý với anh chị em trong ngày làm việc đầu tiên hôm nay.

  1. HAI GHI NHẬN

Khi nói đến “say mê”, chúng ta nghĩ ngay đến một sức mạnh nội tâm thúc đẩy và một sự kiên trì đạt cho được kết quả sau bao nhiêu đầu tư công sức. Nói đến sức mạnh là đề cập đến “cường độ”. Không thể nào gọi là đam mê hay say mê, nếu không có một mức độ mãnh liệt nào đó. Nguyên từ việt nam “say mê” đã cho chúng ta hình dung một con người vừa say và vừa mê. Hình ảnh “ngọn lửa” cũng gợi cho chúng ta hình ảnh của cường độ say mê; chính vì thế mà những hạn từ như “nhiệt tâm”, “nhiệt huyết”, “nhiệt thành” được xử dụng trong mối liên hệ với những thứ bao gồm “nhiệt lượng”. Người say mê như thể có ngọn lửa thiêu đốt và thổi bùng trong nội tâm mình.

Nhưng, cường độ mà thôi thì chưa đủ để có thể diễn tả niềm say mê, vì có những thứ “lửa rơm” bạo phát bạo tàn. Để có thể là người say mê, cần hội tụ thêm yếu tố “trường độ”, nghĩa là độ dài trong cuộc sống, trong công cuộc. Chính độ dài này làm nên khác biệt giữa những người hời hợt, nhất thời và những người đi đến cùng của lựa chọn và đạt được điều mình dấn thân vào.

Hai yếu tố “cường độ” và “trường độ” có được chúng ta nhận ra nơi con người Cha Tổ Phụ Biển Đức không? Hành trình 53 năm (1880-1933) không phải là dài của một cuộc đời và cũng không phải là thọ - vì ngài hưởng dương, chứ không phải hưởng thọ - nhưng cường độ và trường độ được nhận ra nơi ngài, chính là mối tình thiết tha của ngài với Chúa, mối tình keo sơn gắn bó mà không có gì tách lìa được.

 

  1. XÁC TÍN CĂN BẢN

Chúng ta khẳng định Cha Tổ Phụ là con người “say mê Thiên Chúa” và chúng ta thường nhìn vào ngài như thể chính ngài như con người đi bước trước trong hành trình của mối tình song phương này. Sự thật không phải vậy.

Theo tâm lý bình thường, người ta chỉ say mê một điều gì khi đã cảm nghiệm, trải nghiệm hay chứng nghiệm ít ra một phần nào đó. Nghĩa là người ta cảm thấy thu hút bởi một đối tượng. Như vậy, say mê là lời đáp của một lực cuốn hút.

Vậy, đâu là lực hút của niềm say mê nơi Cha Tổ Phụ?

Những môn sinh đã từng sống với ngài, và qua các giáo huấn thiêng liêng được ghi lại trong cuốn DI NGÔN, đều minh chứng một điều, đó là Cha Tổ Phụ luôn nói về Tình Yêu của Chúa một cách say mê. Những kiêu nói “Chúa yêu thương chúng ta quá lẽ”, “Chúa yêu thương chúng tôi không biết là dường nào”, “Chúa thương cha quá lẽ”… diễn tả thật dễ hiểu nhưng sâu sắc mối tình Thiên Chúa dành cho chúng ta. Như vậy, chúng ta chỉ say mê Thiên Chúa khi chúng ta cảm nghiệm được rằng Chúa yêu chúng ta bằng một mối tình say đắm. Chúng ta có dám tìn như thế không? Cha Tổ Phụ đã dám tin và dám sống cảm nghiệm được Chúa yêu tha thiết, và cha đã trở thành một con người say mê Thiên Chúa.

Có thể chúng ta chưa là con người của cảm nghiệm, những cảm nghiệm sâu xa về tình yêu thương của Chúa trên và trong đời mình, nên tình yêu Chúa chưa đủ cường độ để lôi cuốn chúng ta. Thật lòng, chúng ta đang bị những thứ gì lôi cuốn? Cha Tổ Phụ nhiều lần đã nói “mọi sự đều vô ích chóng qua, trừ ra sự kính mến Chúa”. Với tư cách là những người có trách nhiệm huấn luyện, chúng ta có thực sự đào luyện mình để Chúa là Đấng duy nhất lôi cuốn chúng ta một cách mãnh liệt nhất?

Xin nhắc lại lời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI – và được nhắc lại rất nhiều và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau – “ngày nay, người ta tin vào chứng nhân hơn là thầy dạy. Và nếu người ta tin vào thầy dạy, là vì thầy dạy đó cũng đồng thời là chứng nhân”. Chứng nhân, nói một cách đơn giản, là con người đã “thấy, đã nghe, đã đụng chạm tới” – như thánh Gioan viết trong thư của ngài – nghĩa là con người đã chứng nghiệm và có thể thông truyền cho người khác.

Như vậy, xác tín căn bản – xác tín chứ không phải một tuyên bố suông – là Thiên Chúa yêu thương tôi bằng một tình yêu say mê, hết sức quan trọng. Điều đó làm nên nền tảng cho sự đáp trả say mê của mối tình chúng ta với Thiên Chúa. Các Linh Phụ, Linh Mẫu Xitô đã dùng hình ảnh Đấng Tình Quân và Hiền Thê để diễn tả mối tình say đắm đó. Hiền thê, một khi đã cảm nghiệm thấy tình yêu của Đấng Tình Quân, một khi đã hưởng nếm vị ngọt ngào của tình yêu đó, đã đáp lại bằng tất cả mối tình của mình. Và khi Đấng Tình Quân ra đi, vắng mặt, Hiền Thê chỉ còn một khát khao nóng bỏng là mong gặp lại Đấng lòng mình tha thiết yêu mến. Một loại “bệnh tương tư”! Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, không diễn tả tình yêu say mê của Thiên Chúa và con người dưới ngôn ngữ của tình yêu phu thê – vì ngài biết nói với ai trong nền văn hóa nào -, nhưng không vì vậy mà ngài thiếu chất “lửa” và “say” trong đời sống và ngôn từ của ngài. Những kiểu nói “Chúa ở cùng”, “Người ngự trong chúng tôi”, “phước của chúng tôi cao trọng lắm là được chính mình Chúa”, “Người nên như cha, như bạn thiết tình thân”… Những điều đó lột tả phần nào nội tâm của Cha Tổ Phụ trước mối tình say mê của Thiên Chúa.

Nhớ về ngài, chúng ta cũng nghĩ về mình. Chúng ta đã nói trên khi đặt câu hỏi là chúng ta được lôi cuốn bởi ai và điều gì. Chúng ta cũng nói đến cảm nghiệm tình yêu say mê của Thiên Chúa đối với mình. Và chúng ta cũng tự thẩm định xem “chất lửa” của tình yêu Chúa cho nung nấu và sôi bỏng tâm can chúng ta hướng về Chúa không?

 

  1. MỘT VÀI DIỄN TẢ

Khi nói đến diễn tả, là nói đến cái bên trong thôi thúc diễn đạt ra bên ngoài. Nhưng đâu là những tâm tình bên trong mang dấu ấn của một con người say mê?

Thật ra, khi nói đến ai đó “say mê Thiên Chúa’, chúng ta khó mà thẩm định, vì phán đoán và nhận xét của chúng ta cũng dễ sai lầm, và con người cũng rất có khả năng đóng kịch để che mắt tha nhân. Chúng ta chỉ có thể nhận ra một vài dấu chỉ bên ngoài có thể diễn tả trung thực một phần nào nội tâm. Cha Tổ Phụ, qua các giáo huấn của ngài – lột tả chính nội tâm của ngài – diễn đạt không theo một hệ thống, nhưng chúng ta có thể nêu lên một vài yếu tố.

  1. “Được yêu mến Chúa là một hồng ân” : “Vì lòng Người yêu thương chúng ta, nên buộc chúng ta phải yêu mến Người, để chúng ta được nhờ mà thôi. Vì khi chúng ta được xem thấy Đức Chúa Trời, thì được sung sướng toại chí phỉ lòng phỉ dạ, không còn thiếu chi nữa” (DN 112, Về đức mến, tr.134).

Xác tín trên rất quan trọng vì cho chúng ta thấy rằng việc yêu mến Chúa là một hồng ân nhưng không. “Được yêu mến Chúa là một hồng ân”. Từ xác tín đó, chúng ta sẽ biết khiêm tốn đón nhận và chân thành cảm tạ Thiên Chúa. Đây là một hồng ân mà không phải bất cứ ai cũng hiểu và nhận được. Chính vì thế, niềm vui biết ơn – vì biết mình được cái phước yêu mến Chúa - là một diễn tả đẹp và chân thực về tình yêu say mê đối với Thiên Chúa. Cha Tổ Phụ, một con người nghiêm túc và nghiêm trang, nhưng theo chứng từ của các môn sinh từng chung sống với ngài, ngài là một con người của niềm vui. Trong các lời giáo huấn, ngài luôn nói đến niềm vui với những khía cạnh khác nhau. Phải chăng khi yêu nhau một cách say mê, người ta cảm nghiệm thấy một niềm vui dạt dào được thuộc về nhau. Đối với chúng ta, đâu là niềm vui lớn nhất của chúng ta? Phải chăng là Thiên Chúa hay điều gì khác? Chúa có là niềm vui trọn vẹn cho tâm hồn chúng ta không?

  1. “Lòng khao khát” là một diễn của tình yêu say mê. Tất cả chúng ta đang trên hành trình để thuộc về Chúa. Chúng ta chưa đạt tới đích là chiêm ngưỡng Chúa như các thánh. Chính vì thế, lòng khao khát luôn thúc đẩy chúng ta sống trọn vẹn trong hiện tại và vươn tới tương lai để yêu Chúa tha thiết hơn nữa cho đến ngày hoàn toàn được Chúa chiếm trọn và kết hợp mật thiết với Chúa. Trong cuộc sống hiện tại, sự kết hiệp với Chúa vẫn được hiện thực với cường độ của tình yêu, nghĩa là thiết tha yêu mến Chúa. Cha Tổ Phụ, trong cuộc sống và qua các giáo huấn, luôn nhấn mạnh đến sự kết hiệp một lòng một trí với Chúa. Ngài giải thích đó là sống thân tình với Chúa, một cách hết sức cụ thể và gần gũi như sống tình cha con, anh em nghĩa thiết với nhau. Để có thể đạt tới điều đó, ngài nhất mạnh đến lòng khao khát Chúa và thuộc về Chúa, đến nỗi khao khát thiên đàng, nghĩa là được thật sự gặp Chúa một cách trọn vẹn.

Trong tình yêu nhân loại, lòng khao khát là một diễn tả của tình yêu thật sự. Khi không còn yêu nhau, người ta sẽ hờ hững, sẽ lạnh nhạt và chắc chắn sẽ không còn nhưng khát khao, chưa nói là những khát khao mạnh mẽ. Và chúng ta? Chúng ta hãy tự chất vấn mình xem mình có thật sự khát khao Chúa không? Thánh Augustino đã coi lòng khát khao đã là tình yêu rồi. Chúng ta đang khát khao gì nhất đây? Và chúng ta đã, đang đầu tư sức lực, trí không và tâm hồn cho điều gì đây? Kho tàng ở đâu thì lòng ở đó, và kho tàng ở đâu thì lòng khao khát cũng ở đó.

  1. “Làm vui lòng Chúa” là một diễn tả sống động và chân thực của tình yêu say mê. Làm sao có thể yêu say mê, nếu không muốn và thực sự làm vui lòng nhau. Có thể nói, người yêu trở thành duy nhất đối với mình, và mọi hành vi, ngôn hành đều sẽ chỉ có mục đích là làm cho người yêu vui. Niềm vui của người yêu là niềm vui của chính mình. Điều đó đòi hỏi hay đúng hơn lột tả một sự “vượt qua bản thân”, nghĩa là quên mình đi mà chỉ hướng về người yêu. Người yêu là tất cả. Hãy chiêm ngắm Chúa Giê-su, Đấng luôn làm vui thỏa lòng Chúa Cha và chu toàn mọi việc để Chúa Cha được vinh danh.

Chúng ta có thể nói cuộc đời của Cha Tổ Phụ in đậm dấu ấn của khát khao làm vui lòng Chúa. Và cuộc sống của ngài thật sự đã diễn tả điều này. Ngài không tìm kiếm bản thân ngài như thể bản thân là trung tâm hay mục tiêu, nhưng là Chúa. Trong các giáo huấn, khi đề cập đến các khía cạnh của đời sống thiêng liêng hay huynh đệ hoặc bất cứ vấn đề nào được nêu lên, ngài luôn khuyên – và đương nhiên là ngài đã sống – phải lợi dụng mọi hoàn cảnh đó để thêm lòng yêu mến Chúa, thêm lòng sốt sắng (nghĩa là thêm cường độ của tình yêu). Những kiểu nói “chịu khó hằng ngày vì mến Chúa”, “vui lòng chịu đau khổ hiệp với sự thương khó của Chúa”, “tìm Chúa, kết hợp với Chúa, nói khó với Chúa”… diễn tả điều duy nhất là muốn làm đẹp lòng Chúa trong mọi sự.

Chúng ta cũng cần trở về với lòng mình để tự xét xem chúng ta có thật sự ước muốn làm đẹp lòng Chúa trong mọi sự không? Thánh Gregorio đã viết về thánh Biển Đức “Ngài chỉ muốn làm đẹp lòng Thiên Chúa”. Nhưng làm đẹp lòng Chúa không phải là tình cảm chóng qua hay chỉ là những cảm xúc nhất thời, đây là một định hướng, và chính định hướng này mới giúp chúng ta sống cái thường nhật và cả cuộc đời có ý nghĩa. Nhưng ước muốn làm đẹp lòng Chúa cũng hết sức thực tế, đó là những công việc chúng ta thực hiện, những ngôn từ chúng ta sử dụng, với ý hướng nào? Nguy cơ đi tìm bản thân một cách ích kỷ và kiêu ngạo vẫn luôn rình rập chúng ta.

 

  1. NHỮNG HOA TRÁI

Nói đến hoa trái là nói đến sự phong nhiêu. Một tình yêu chân thật và say mê luôn là một tình yêu chứa đựng những hoa trái trong chính mình. Cũng như trong đời sống hôn nhân, một tình yêu nồng thắm dành cho nhau sẽ trổ sinh nhiều hoa trái cho hạnh phúc gia đình, cho con cái và chuyển động đến các thế hệ. Tình yêu say mê của Thiên Chúa hay đối với Thiên Chúa cũng đương nhiên là mang lại nhiều hoa trái. Có rất nhiều hoa trái của một tình yêu say mê không thể nào liệt kê hết được. Xin được nêu lên một vài hoa trái mà Cha Tổ Phụ đã chỉ cho và muốn chúng ta trổ sinh trong đời sống đan tu Xitô Thánh Gia này.

  1. “Kẻ gặp được Chúa thì yêu anh em mình lắm lắm!”

Cha Tổ Phụ luôn nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa tình yêu Thiên Chúa và tình huynh đệ. Điều này không có gì mới vì đó cũng là chính giới luật yêu thương của Chúa. Thánh Gioan đã nhấn mạnh đến mối tương quan kép này của tình yêu. Ở đây, chúng ta không phân tích tình yêu anh em, tình huynh đệ là gì và thực hiện như thế nào. Chúng ta chỉ nêu lên sự kiện là tình yêu say mê đối với Thiên Chúa sẽ dẫn đến sự say mê trong đời sống cộng đoàn, đến việc sống mạnh mẽ tình huynh đệ.

Điều mỗi chúng ta cần nêu lên cho chính mình, đó là đời sống cộng đoàn có phải là nơi chúng ta sống mối tình say mê với Thiên Chúa. Nghĩa là đời sống cộng đoàn với những mối tương giao huynh đệ có thật là môi sinh lành mạnh cho mối tình chúng ta sống với Chúa? Điều này cũng giả thiết là chúng ta gắn kết “sống chết” với cộng đoàn, với anh em mình. Nhưng chúng ta cũng tự vấn xem tâm hồn của chúng ta có thực sự thuộc về cộng đoàn không? Và cộng đoàn, đời sống cộng đoàn có thật sự giúp chúng ta đào sâu và sống chân thực mối tình say mê với Thiên Chúa?

Cha Tổ Phụ nói là “gặp Chúa”, nghĩa là một cuộc và một sự gặp gỡ thật sự, có âm hưởng mạnh mẽ đến nỗi chúng ta sẽ biết yêu thương những anh em sống chung trong đan viện – và trong Hội Dòng – bằng một sự gặp gỡ thật sự. Nhưng thế nào là gặp gỡ thật sự?

  1. “Kẻ gặp được Chúa thì khao khát linh hồn người ta”

Hoa trái thứ hai lớn hơn hoa trái thứ nhất, hay đúng hơn, hoa trái thứ nhất phải dẫn đến hoa trái thứ hai. Cha Tổ Phụ đã khuyên các môn sinh là không những yêu thương những anh em cùng chung sống dưới một mái nhà mà còn yêu thương mọi người. Nhưng yêu thương như thế nào và bằng cách nào?

Chúng ta biết là Cha Tổ Phụ đã là một thừa sai thuộc Hội Thừa Sai Paris. Lòng nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, truyền giáo, thấm tận xương tủy ngài. Cho nên, khi lập dòng đan tu chuyên sống đời chiêm niệm, ngài không bao giờ quên những người chưa nhận biết Chúa. Những người chưa nhận biết Chúa được ngài yêu mến một cách hết sức mãnh liệt. Chính vì thế, trong Hiến Pháp ngài soạn thảo, trong các lời giáo huấn và qua cuộc sống của chính ngài, lòng khao khát các linh hồn như là hoa trái của mối tình say mê đối với Thiên Chúa.

Một lần nữa, chúng ta nhắc lại từ “gặp” – người gặp Chúa thì khao khát linh hồn người ta – diễn tả một điều gì thật mạnh mẽ và đến nỗi thúc đẩy đến gặp người khác, gặp “linh hồn’ người khác, không phải bằng sự hiện diện thể lý mà trong sâu xa của một mối tình say mê. Bằng lời cầu nguyện và hy sinh – như được nêu lên trong Hiến Pháp – nhưng cón trong mọi hoàn cảnh cuộc sống, để đan sĩ luôn biết sử dụng các cảnh huống đó để hướng tới những tâm hồn chưa nhận biết Chúa. Chúng ta có thể nói tình yêu say mê đối với Thiên Chúa luôn tỷ lệ thuận với lòng khao khát linh hồn người ta. Đây cũng là một điều chúng ta cần tự vấn lương tâm mình.

  1. “Vui sướng vì người ta yêu mến Chúa”

Xin được nêu lên hoa trái thứ ba là vui sướng vì người ta yêu mến Chúa”. Điều này được Cha Tổ Phụ nói lên khi viết thư cho song thân kể chuyện ngài dạy giáo lý và người ta vui sướng khi được dạy về lòng yêu thương của Thiên Chúa. Họ tròn xoe đôi mắt với tất cả ngạc nhiên, vì xưa nay, khi chưa được học giáo lý để theo đạo, người ta sợ đủ thứ thần minh và nhìn thấy đe dọa ở khắp nơi có các ông thần hiện diện. Điều này cũng được chân nhận khi ngài cảm thấy rất vui sướng khi anh em hết lòng yêu mến Thiên Chúa và ngày càng tiến bộ trong tình yêu.

Vui sướng vì người ta yêu mến Chúa là một hoa trái rất cao quí của một tình yêu say mê. Thật vậy, khi say mê Thiên Chúa – với một tình yêu chân thật – người ta cũng rất mong muốn Thiên Chúa được yêu mến, say mê bởi rất nhiều người. Đây chính là tâm tình và thái độ của thánh Gioan Tẩy Giả đối với Chúa Giêsu, và chắc chắn cũng là của các thánh, đặc biệt các thánh Tổ Phụ các dòng tu.

Chúng ta cũng được mời gọi để chia sẻ niềm vui sướng đó. Nhưng điều đó chỉ có nghĩa khi chúng ta cũng thực sự vui sướng yêu mến Chúa một cách say mê. Đôi khi và có thể nhiều khi chúng ta cứ muốn được người ta yêu mến, có khi hơn cả Chúa nữa! Nếu thật sự yêu mến Chúa, thì cũng sẽ vui sướng khi thấy nhiều người yêu mến Chúa.

Trên đây chỉ là một vài gợi ý để anh chị em có thể chia sẻ với nhau. Những sự phong phú đang được chờ đợi qua các chia sẻ của từng anh chị em. Cám ơn anh chị em đã lắng nghe.

******

 

Sau bài chia sẻ của Viện Phụ Hội Trưởng Gioan Thánh Giá Lê Văn Đoàn, các thành viên mỗi tổ đi thảo luận theo nhóm đã chia (4 tổ được phân chia ở các vị trí khác nhau).

Trước giờ cơm trưa là kinh giờ VI tại phòng hội chung.

  1. BUỔI CHIỀU

Từ 2g15, các thành viên ban huấn luyện qui tụ tại phòng hội để nghe báo cáo thành quả trao đổi của các tổ và sau đó hội nghị cùng chia sẻ chung.

Sau khi nghe các tổ báo cáo và trao đổi, Viện Phụ Hội Trưởng Gioan Thánh Giá đúc kết:

  • Say mê TC là một thực tại, chứ không phải ảo tưởng: Thiên Chúa say mê con người và con người say mê Thiên Chúa.
  • Say mê Thiên Chúa là một trải nghiệm, một hành trình nên có những mẫu số chung và những nét riêng tư (nam, nữ, hoặc những thăng trầm…)
  • Say mê Thiên Chúa luôn là một lời mời gọi để “hơn nữa” qua những thực hành thực tế, cụ thể trong cuộc sống hàng ngày.

Đúng 4h 30, hội nghị kết thúc ngày tĩnh huấn thứ I. Những giờ tiếp sau đó là: Kinh Chiều, cơm chiều, Kinh Tối, Kinh Đêm.

 

 

NGÀY THỨ HAI (7/1/2016)

 

  1. BUỔI SÁNG

 

Thánh lễ kính Mình và Máu Chúa Ki-tô do cha Tô-ma Nguyễn Văn Giang (Tập sư Đan Viện Châu Sơn Đơn Dương) chủ sự, cha Dominico Minh Nguyễn Quốc Kỳ (Tập Sư Đan Viện Khiết Tâm Phước Lý) chia sẻ trong thánh lễ.

*** Bài giảng trong thánh lễ (cha Dominico Minh Nguyễn Quốc Kỳ)

Thánh Th - tình yêu dâng hiến

 

Kính thưa cộng đoàn,

Thi sĩ Xuân Diệu, với những cảm nghiệm sâu sắc về tình yêu và với  biệt tài văn thơ đã dệt nên những vần thơ tuyệt diệu, diễn tả ý nghĩa thâm sâu nhất, thực tế nhất, nhưng cũng rất phũ phàng của tình yêu như sau:

            Yêu là chết trong lòng mt ít,

            Vì my khi yêu mà chc đưc yêu.

            Cho rt nhiu nhưng nhn chng bao nhiêu;

            Ngưi ta ph, hoc thơ, chng biết”.

Yêu là chấp nhận chết đi cho người mình yêu. Yêu là chấp nhận cho đi mà không mong nhận lại. Sự trao ban trọn vẹn bản thân cho tới chết đó là tuyệt đỉnh của tình yêu dâng hiến, thể hiện nơi Thập giá Đức Kitô và được cụ thể hóa nơi Bí Tích Thánh Thể.

 

  1. Thp giá - chết cho tình yêu

 

Thập giá trước hết là hình phạt thảm sầu nhất dành cho những tội nhân, là sự thất bại ê chề và là sự xỉ nhục đối với người đời. Thế nhưng, Con Thiên Chúa đã sẵn sàng đón nhận nỗi ô nhục đó để bày tỏ tình thương vô lượng của Thiên Chúa đối với nhân loại. Nơi thập giá, Con Thiên Chúa đã không ngần ngại hủy mình ra không và trở nên như một tội nhân; Ngài đã sẵn sàng cho đi đến tận giọt máu cuối cùng và chấp nhận cái chết như một hy tế trọn vẹn nhất của tình yêu. “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu ca ngưi hy sinh mng sng mình vì ngưi mình yêu” (Ga 15 ,13).

Trong ý nghĩa này, chết cho người mình yêu là tuyệt đỉnh của mọi sự hy sinh. Bởi vì người ta chẳng con gì cho nhau, khi dòng sông cuộc đời đã ngừng chảy, khi thuyền đời đã đụng tới ranh bờ là sự chết, và khi khúc nhạc cuộc đời đã đến hồi kết, mà “nghĩa trang là nốt cuối cùng” (Diệp Minh Tuyền).

 

Tất cả chúng ta đều chân nhận rằng, chết là dấu chấm hết cho mọi nỗ lực vươn lên của kiếp người, là ranh bờ của một hiện hữu tại thế, nhưng chết không phải là sự hủy diệt toàn vẹn, chết không thể ngăn cản sự sống tiếp diễn. Đúng hơn, chết là khởi đầu cho một sự sống mới, là điều kiện tất yếu để sự sống được trao ban. Vì “Nếu ht ging không chết đi thì nó vn trơ tri mt mình, còn nếu nó chết đi nó mi sinh đưc nhiu bông ht”. Hành động trao ban sự sống này được viên thành nhờ hy hiến Thập giá, được thể hiện rõ nét và được tái diễn không ngừng trong Bí Tích Thánh Thể.

 

  1. Thánh Th - trao ban s sng.

 

Trình thuật phép lạ hoá bánh ra nhiều mà chúng ta vừa nghe là trình thuật nền tảng và quen thuộc của Tin Mừng (x. Mt 14, 13-21; Mc 6, 30-34; Lc 9,10-17; Ga 6,1-14), là dấu chỉ loan báo về Bí Tích Thánh Thể. Bởi vì từ hành động hoá bánh ra nhiều để nuôi sống phần xác, Chúa hướng con người đến của ăn nuôi sống linh hồn, mà của ăn đó chính là Mình và Máu Đức Kitô được trao hiến cho nhân loại. Sự tự hiến này được thánh Phaolô diễn tả lại cách rõ ràng trong 1Cr 11,14 rằng: “Anh em hãy cm ly mà ăn, đây là mình thy, hiến tế vì anh em”. Như thế, Thánh Thể diễn tả tình yêu dâng hiến của Chúa, là quà tặng vô giá của Đức Giê-su trao tặng cho nhân loại. Lễ vật hiến tế này trở thành lương thực cho đời sống thần linh của con người. Nhờ đó, con người được sống và tăng trưởng trong đời sống tâm linh, được sống trong mối thân tình với Thiên Chúa, được chia sẻ chính sự sống của Ngài, và được bảo đảm trọn vẹn cho sự sống đời đời như lời Chúa đã nói: ”Ai ăn tht và ung máu tôi, thì đưc sng muôn đi và tôi scho ngưi y sng li vào thi sau hết“ (Ga 6, 54).

Chúa đã hiến tế cuộc đời mình, đã chết vì yêu, và Ngài đã chịu nghiền nát bản thân để trở nên lương thực cho đời sống thần linh của chúng ta. Sự tự hiến đó chính là mẫu gương cho chúng ta noi theo.      

 

  1. S hiến tế ca Chúa là gương mu cho đi sng dâng hiến ca đan sĩ

 

Con Thiên Chúa đã vì say mê tình nhân loại, nên đã tự nguyện hiến tế chính mình cho nhân loại, Ngài đã vượt qua đau khổ, chết và phục sinh để đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Qua đó, Ngài cũng muốn mời gọi chúng ta, nhất là các đan sĩ, những người sống đời thánh hiến cũng hãy biết hy sinh cuộc đời mình để trở nên của ăn tinh thần cho anh chị em mình. Vì nếu Chúa đã mời gọi chúng ta: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, thì chắc chắn Ngài cũng mời gọi chúng ta: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (bài Tin Mừng). Câu nói này như là lệnh truyền cho mọi người trong chúng ta. Mỗi một người trong chúng ta, dù là bề trên, là những người phụ trách hay bất cứ ai đều được mời gọi tự hiến cuộc đời mình cho tha nhân, được mời gọi chấp nhận bị nghiền nát bản thân để trở nên tấm bánh thiêng liêng cho anh em mình. Vì thế, cho tới khi nào trong cộng đoàn, trong gia đình chúng ta còn có những anh chị em đau khổ hay đói khát về đời sống tâm linh thì lúc ấy chúng ta vẫn chưa thực sự chu toàn bổn phận, lúc ấy chúng ta vẫn còn có trách nhiệm phải hy sinh.

 

Cha Tổ Phụ của chúng ta chính là mẫu gương về sự say mê Thiên Chúa và sự hy sinh. Thật vậy, với niềm say mê Thiên Chúa và say mê các linh hồn, Cha Tổ Phụ đã hiến trọn cuộc đời mình cho công việc truyền giáo và lập dòng. Ngài đã kinh qua không biết bao nhiêu gian khó để Hội dòng Thánh Gia của chúng ta có ngày hôm nay. Có thể nói, cuộc đời Cha Tổ Phụ là một hiến tế toàn vẹn cho Chúa, cho Giáo hội Việt Nam và đặc biệt cho Hội dòng chúng ta. Noi gương ngài chúng ta cũng hãy say mê trong việc phụng sự Chúa và quảng đại trong việc phục vụ anh em.

 

Kính thưa cộng đoàn, “yêu là chết, nhưng không phải chỉ chết một ít như thi sĩ Xuân Diệu, yên là cho đi, nhưng không phải cho đi cách nữa vời, nhưng là cho đi một cách quảng đại không tính toán, là hiến  trọn vẹn bản thân mình cho anh em. Hành động dâng hiến của Chúa Giêsu trên thập giá và trong Bí Tích Thánh Thể là kiểu mẫu cho tất cả chúng ta trong đời sống hy sinh phục vụ. Xin cho mọi người chúng ta biết sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Chúa, biết sống trọn vẹn ý nghĩa “tự hiến”  của Bí Tích Thánh Thể trong chính cuộc sống thường ngày của chúng ta. Amen.

*****

 

Sau khi ăn sáng, lúc 7h 35: hội nghị bắt đầu buổi họp.

Nguyên Viện phụ Dominico Phạm Văn Hiền gợi ý suy tư với chủ đề: “say mê Thiên Chúa: làm sao giúp những người thụ huấn của chúng ta say mê Thiên Chúa”.

Trước khi trình bày đề tài, Viện phụ nhấn mạnh đến tư tưởng của thánh Augustino: nghệ thuật trên hết các nghệ thuật là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua công trình sáng tạo, qua mầu nhiệm cứu độ. Những sáng kiến của tình yêu Thiên Chúa là một nghệ thuật lạ lùng: có ai lại nghĩ rằng Thiên Chúa lại làm người để cứu nhân loại, có ai lại nghĩ đến “sáng kiến” của Thiên Chúa trong mầu nhiệm Thánh thể - Bí tích Tình yêu. Để hiểu nghệ thuật tình yêu cao cả của Thiên Chúa, ta cần phải có một khả năng cảm nghiệm, chiêm ngưỡng. Vì thế, Viện phụ mời gọi mọi thành viên hội nghị cùng nhau suy tư 3 điểm liên quan đến đề tài:

- Thế nào là say mê Thiên Chúa?

- Làm thế nào giúp người thụ huấn say yêu Thiên Chúa?

- Bí quyết thực hành.

Sau bài chia sẻ của nguyên Viện Phụ Dominico, các nhóm thảo luận riêng và theo chương trình của ngày làm việc thứ nhất.

 

  1. BUỔI CHIỀU

Đại diện 4 tổ báo cáo đúc kết buổi làm việc chung ban sáng của nhóm.

Sau đó Viện Phụ Hội Trưởng đúc kết và nhấn mạnh điều then chốt: yêu mến Thiên Chúa không là một sự áp đặt nhưng là sự tự do chọn lựa, dấn thân của con cái TC, lúc đó chúng ta mới có sự say mê Thiên Chúa đích thực.

Buổi họp kết thúc lúc 4h 45. Mọi sinh hoạt tiếp theo đó theo tờ chương trình tuần tĩnh huấn.

 

 

 

 

 

NGÀY THỨ BA (8/1)

Thánh lễ kính Thánh Tâm Chúa do cha Giuse Hoàng Văn Thắng (Tập sư Đan Viện Châu Thủy) chủ sự.

Bài giảng trong thánh lễ do cha Gioan Kim Khẩu Nguyễn Văn Nam (Phụ trách anh em khấn tạm Đan Viện Thiên Phước).

Bài đọc: Ezekien 34, 11-16; Lc 15, 3-7

Dấu chứng lòng thương xót Chúa Cha

  1. Thiên Chúa Thương Xót Dân Người

Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy Thiên Chúa đã thiết lập giao ước với dân riêng của Ngài là Israen, một giao ước bền vững, cho dù họ có bất tuân, phản bội, nổi loạn chống lại Ngài, nhưng Thiên Chúa luôn luôn rộng lượng thứ tha; bởi vì Ngài từ bi nhân hậu, giàu lòng xót thương và giữ lòng trung tín mãi muôn đời (Nkm 9,17.25.31; St 32,10.13; Xh 34,6; Tv 23,6; 31,20; 68,11; 69,17; Tv 146,6).

Quả thật, dân Israen bội tín với ơn huệ đó. Họ bỏ Thiên Chúa để đi thờ tà thần. Đầu mối đưa đến sự bất tín đó phần lớn là do các vị lãnh đạo dân (vua quan và hàng tư tế). Họ được ví như là những mục tử xấu, thay vì chăn dắt chiên, họ lại tìm cách bóc lột, vơ vét, bỏ mặc chiên đói khát, bơ vơ và tản mát khắc nơi, phần đông dân Chúa lúc bấy giờ chán nản, hoảng loạn và tuyệt vọng!

Ngôn sứ Ezekien đã được Thiên Chúa sai đến loan báo về một thời đại mới. Trong thời đại mới này, chính Thiên Chúa sẽ là mục tử chăn dắt dân của Ngài. Ngài sẽ dẫn đưa những con chiên bị phân tán trở về. Người sẽ bảo vệ và giải thoát họ khỏi bàn tay áp bức của kẻ thù đang đè nặng trên dân. Ngài nói: “Này chính Ta săn sóc đoàn chiên của Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng ... Ta sẽ dẫn chúng ra khỏi các dân tộc, Ta sẽ tụ họp chúng từ khắp măt đất, và đưa chúng vào đất của chúng” (Ed 34,11-13). Không chỉ là tụ họp dân lại mà Vị Mục Tử này còn lo cho đoàn chiên từng miếng ăn, thức uống, thuốc men chữa trị, như lời Ngài phán: “Ta sẽ thả chúng ăn trên những ngọn núi cao Israen, chúng nghỉ ngơi trong những đồng cỏ xanh tươi,... Chính Ta sẽ chăn dắt các chiên Ta; … Ta sẽ tìm con chiên đã mất, sẽ đem về con chiên lạc, sẽ băng bó con chiên bị thương tích, sẽ lo chữa con chiên bị ốm đau, con nào mập béo, Ta sẽ chăm sóc, và sẽ chăn dắt nó trong sự công chính" (Ed 34, 14-16). Đó cũng chính là kinh nghiệm thánh vương Đavít trong thánh vịnh 22: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi Người lo bồi dưỡng...” (Tv 22).

Người mục tử mà ngôn sứ Ezekien và vua Đavít tiên báo không ai khác hơn là chính Đức Giêsu Kitô, Vị Mục Tử nhân lành và đích thực được Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại.

  1. Ðức Kitô Mục Tử Nhân Lành và Đích Thực

Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Luca giới thiệu khuôn mặt Vị Mục Tử nhân lành đó là Đức Giêsu Kitô, Ðấng mà Thiên Chúa đã sai đến trần gian để thực hiện kế hoạch cứu độ và bày tỏ dấu chứng tình thương yêu của Thiên Chúa cho mọi người. Tình yêu ấy đã thúc đẩy Ngài lên đường ra đi tìm kiếm những con chiên đang sống trong lầm lạc, tội lỗi, như chúng ta vừa được nghe: “Người nào trong các ông có 100 con chiên và nếu mất một con, lại không để 99 con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc cho đến khi tìm thấy sao?” (Lc 15,4).

Con chiên đi lạc ở đây có thể hiểu như là một sự bất kham, ngang bướng, khờ khạo, ham vui, ốm yếu, kiệt sức, hay là tình trạng “tội lỗi và hư mất.”  Người mục tử không cần tìm hiểu lý do tại sao; trái lại khi đã yêu thương thì ân cần và lo lắng cho nó. Thậm chí còn vác trên vai thánh của mình mà đưa về đàn… Trong thực tế, cả 100 con chiên thả trên núi đồi như vậy mà chỉ lạc một con và đi tìm nó là chuyện bình thường. Thế nhưng, cái không bình thường là sau khi vất vả tìm được chiên rồi, người mục tử đó vui mừng vác nó trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu đến mở tiệc ăn mừng. Rõ ràng dụ ngôn ám chỉ sứ vụ của ĐGS, Người Mục Tử đích thực, Người đến trần gian để cứu những gì đã hư mất.  Điều đáng nói nữa là dụ ngôn này không kết tội hay lên án con chiên bị lạc mà là trách nhiệm về người mục tử, người có bổn phận chăn dắt chiên.

  1. Trách Nhiệm của Mục Tử

Trở lại với bài Tin Mừng chúng ta sẽ thấy trách nhiệm và mẫu gương tuyệt vời qua con Người Mục Tử Giêsu, cho dù chúng ta có tội lỗi, kém cõi, bất kham đến đâu đi chăng nữa, thì Ngài vẫn hằng mở rộng vòng tay như người cha chờ đợi đứa con hoang đàng trở về. Không chỉ là một sự chờ đợi, mà Ngài còn lên đường tìm kiếm, tự ý, tự nguyện hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. “Ngài đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). “Ngài đến không phải để kêu gọi những người công chính mà chỉ để kêu gọi những người tội lỗi (Mt 9,13); vì thế mà “trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn hối cải hơn chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn” (Lc 15,7). Điều đó làm cho chúng ta thêm xác tín dấu chứng lòng thương xót Thiên Chúa rằng, Thiên Chúa không bao giờ đặt dấu chấm hết cho bất kỳ người nào hay là một ơn gọi nào.

Trong bối cảnh tịnh huấn của các ban huấn luyện trong hội dòng, với cương vị là những người có trách nhiệm phục vụ và hướng dẫn anh chị em trong các giai đoạn huấn luyện, con thiết nghĩ chúng ta cần sống và xác tín vào đời sống và giáo huấn của Chúa Giêsu, Người Mục Tử nhân lành, đồng thời theo gương cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, một con người say mê tìm Chúa. Trong Di Ngôn, ngài có nhiều cách diễn ta, ví dụ như: "Chúa yêu thương chúng ta quá lẽ," hoặc là "Chúa yêu cha quá lẽ." Kẻ nào gặp được Chúa thì cũng yêu thương anh chị em mình nhiều lắm lắm.

Là những người được cộng tác trong việc huấn luyện, con xin đưa ra một vài câu hỏi để chúng ta suy nghĩ và thẩm định lại xem mình đã thực sự say mê tìm Chúa và có ưu tư gì đối với những anh chị em đang sai đường lạc lối? Chúng ta có thực sự tha thiết học hỏi, trau dồi kiến thức đóng góp cho huấn luyện của hội dòng chưa? Làm thế nào qua đời sống của mình, những anh chị em được thụ huấn có lòng say mê Thiên Chúa, say mê với ơn gọi?

Ứớc gì qua Lời Chúa hôm nay, giúp chúng ta cảm nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa thể hiện nơi con người Mục Tử Giêsu. Chính lòng thương xót ấy giúp chúng ta hiểu rằng, “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến thân vì người khác” (Mc 10,45). Lòng thương xót ấy còn được thể hiện nơi Thánh Tâm CGS, cụ thể qua bàn tiệc Mình và Máu Thánh Ngài trong phần phụng vụ Thánh Thể mà chúng ta sắp cử hành. Nhờ bàn tiệc Thánh Thể, giúp mỗi chúng ta có đủ can đảm, đủ quảng đại để hiến thân phục vụ Chúa nơi anh chị em mình trong thời đại ngày hôm nay. Amen!

*****

 

Vào lúc 7g30, hội nghị tiếp tục sinh hoạt. Buổi sáng ngày làm việc thứ 3 này, có sự hiện diện của Tổng phụ dòng Xitô Mauro Giusepe Lepori. Ngài có bài chia sẻ với hội nghị về vấn đề huấn luyện trong đời sống đan tu.

 

(Chúng tôi sẽ cập nhật thêm chương trình làm việc của tuần tĩnh huấn ở những phần tin sau).

 

Tổng hợp: Mai Thi.

Hình ảnh: Đan viện Phước Sơn.