Gợi Ý Tĩnh Tâm

BÀI GỢI Ý TĨNH TÂM THÁNG 7-2015 “CHUNG SỐNG ĐỜI HUYNH ĐỆ”


Thánh Công Đồng Vaticanô II trong “Sắc Lệnh Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu” [1] số 15 và qua Bộ Giáo Luật 1983 ở các số 602 và 619, Hội Thánh nhấn mạnh đến chiều kích thiêng liêng và đến mối dây huynh đệ, là yếu tố hiệp nhất mọi phần tử trong đức ái. Bộ Giáo Luật 1983 đã tổng hợp cả hai yếu tố này thành một diễn ngữ “chung sống đời huynh đệ” [2] (GL 607§2). Và theo cách trình bày trong Huấn Thị của  Bộ Các Hội Dòng Tận Hiến Và Các Tu Đoàn Tông Đồ về “đời sống huynh đệ trong Cộng Đoàn” [3], ban hành ngày 02 tháng 02 năm 1994; sách Thói Lệ của Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam minh họa : “Cộng Đoàn Đan Viện được tình yêu của Chúa Kitô quy tụ thành một Gia Đình thiêng liêng. Sự hiệp nhất các phần tử bảo đảm cho sự phát triển và trở thành nguồn suối ơn phúc cho Cộng Đoàn” (số 89). “Bác ái huynh đệ là Giới Răn Mới của Chúa Kitô. Người tu sĩ có tình huynh đệ biết kính nhường anh em, ôn hòa từ tốn với mọi người, vâng phục và chịu đựng lẫn nhau” (số 90 – x. Tu Luật 72).

Nhưng, vấn đề là làm thế nào để bảo tồn và phát huy được việc “chung sống đời huynh đệ” trong Cộng Đoàn như Hội Thánh và Hội Dòng mong muốn. Ngay như người Việt, Cố Thừa Sai Cadière nhận định : “cho dù bất cứ hoàn cảnh nào người ta cũng thuộc về một họ, tức gia đình theo nghĩa rộng, tổ chức vững chắc, liên kết chặt chẽ bằng huyết thống, bằng những quyền lợi vật chất, bằng những niềm tin tôn giáo, bằng các mối dây liên kết luân lý của cộng đồng.” Gia đình truyền thống Việt Nam từ nhiều thế kỷ qua vẫn có “tam đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường”. Thế mà Tổ Tiên chúng ta đã từng thốt lên :

“Gánh khổ mà đổ lên non,

Cong lưng mà chạy, khổ còn chạy theo”.

            Lời ca dao này, minh chứng trong cuộc sống mỗi người luôn có những khó khăn, khổ cực, tinh thần cũng như thể xác. Cái khác và cái hơn nhau, có lẽ ở chỗ cách giải quyết vấn đề.

 

˜™˜Ì™˜™

 

Chúng ta Tĩnh Tâm Tháng 7-2015, trùng vào Chúa Nhật 14 Thường Niên Năm B. Mời anh em đọc lại Bài Đọc II trích trong 2 Cr 12, 7-10, học cách “xử thế” của Thánh Phaolô, để tìm ‘bài học’ cho bản thân. Và nhất là, một người sống đời thánh hiến, cách giải quyết vấn đề phải nói lên được Niềm Vui Phúc Âm, như Đức Thánh Cha  Phanxicô nói : Ở đâu có các Tu Sĩ, thì có niềm vui [4].

 

 “Anh em thân mến, để những mạc khải cao siêu không làm cho tôi tự cao tự đại, thì một cái dằm đâm vào thịt tôi, một thần sứ của Satan vả mặt tôi. Vì thế đã ba lần tôi van nài Chúa, để nó rời khỏi tôi. Nhưng Người phán với tôi rằng: ‘Ơn Ta đủ cho ngươi, vì sức mạnh của Ta được tỏ bày trong sự yếu đuối’. Vậy tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Ðức Kitô ngự trong tôi. Vì thế, tôi vui thoả trong sự yếu hèn của tôi, trong sự lăng nhục, quẫn bách, bắt bớ và khốn khó vì Ðức Kitô: vì khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ”.

 

            Đoạn văn trên, nằm trong phần thứ ba của thư 2 Côrintô, đề cập tới việc thánh Phaolô phải đương đầu với những khó khăn gây nên do một số người “đội lốt tông đồ của Đức Kitô” (11,13) tố cáo ngài là “trong thư thì nghiêm khắc và hùng hổ;  nhưng khi có mặt thì nhu nhược, nói chẳng ra hồn” (10,10), đầy tham vọng, lợi dụng cộng đoàn...  Qua những trả lời với lý luận đanh thép nhưng cũng đầy khiêm tốn, chúng ta có một hình ảnh rất độc đáo về con người của thánh Phaolô:  vừa khiêm tốn lại vừa hãnh diện.  Tuy nhiên, hậu ý của ngài dường như không phải là muốn chúng ta dừng lại ở chuyện cá nhân của ngài, nhưng là qua kinh nghiệm bản thân, ngài muốn chúng ta đi tới xác tín một chân lý:  Thiên Chúa biểu lộ sức mạnh của Người trong sự yếu đuối của chúng ta; hoặc nói khác đi, muốn áp dụng bài học đó thì hãy biết mình để khiêm tốn, biết Chúa để hãnh diện. Có như vậy, thì mới có thể “chung sống đời huynh đệ” trong Cộng Đoàn được. Vì, theo thánh Phaolô [5]:

 

a)  Biết mình và biết Chúa

            Thánh Phaolô mạnh dạn bàn chuyện với những kẻ chống ngài (11,16-12,10): Lời văn xem chừng như thánh Phaolô khoe khoang. Thực ra, không hẳn là thánh Phaolô ‘khoe khoang’, nhưng ngài bất đắc dĩ (12,11) phải nêu lên những thành tích của mình cốt để những kẻ chống ngài hết còn cớ tấn công ngài, và như thế sẽ có lợi cho tín hữu Côrintô. Trong khi những kẻ chống ngài trưng dẫn nguồn gốc Do thái của họ, tài ăn nói hùng hồn và những cảm nghiệm thị kiến hay mặc khải họ có; trái lại, thánh Phaolô chỉ hãnh diện với những đau khổ ngài chịu và sự yếu đuối ngài có. Có sự khác biệt căn bản này là vì những kẻ chống thánh Phaolô chỉ muốn biết mình theo họ muốn, chứ không phải trong tương quan với việc biết Chúa.  Biết mình theo cách của họ, lấy họ làm chuẩn đích chứ không phải là Thiên Chúa, do đó họ không nhìn nhận vai trò của Thiên Chúa và họ tự mãn “theo tính xác thịt” (11,18) về tất cả những gì họ có.  Trái lại, thánh Phaolô dựa trên nguyên tắc căn bản:  “Ai hãnh diện thì hãy hãnh diện trong Chúa!”  Với tinh thần “trong Chúa”, thánh Phaolô tin chắc rằng tín hữu Côrintô đều nhận thấy tất cả cuộc sống ngài, từ lời nói tới hành động, nhất nhất đều nhắm mục đích phục vụ Tin Mừng của Đức Kitô. “Có Thiên Chúa biết” (11,11), đó là nền tảng để chúng ta biết mình. “Đừng ai dựa vào phàm nhân mà hãnh diện” (1 Cr 3,21). 

Chúng ta biết mình với cái biết của Thiên Chúa, chứ không phải với cái biết của mình, vì cái biết của chúng ta dễ bị sai lạc do cái không biết của người khác hoặc do tham vọng của chính chúng ta. Biết mình trong cái biết của Chúa luôn luôn đưa chúng ta tới cùng một thái độ như tác giả Thánh Vịnh 139,23-24:

Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,

xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ. 

Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác,

thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời”.

           

b)  Khiêm tốn và hãnh diện

            Để biểu lộ cái biết đích thực về mình và về Chúa, thánh Phaolô đã biểu lộ qua tâm tình khiêm tốn và hãnh diện. Khiêm tốn để nhận ra rằng nếu Chúa không ban cho thì ngài chỉ là tay trắng. Hãnh diện để xác tín rằng nếu Chúa không nâng đỡ phù trì thì ngài không thể vượt thắng được những khó khăn mệt nhọc. 

Thánh Phaolô đan cử những thí dụ cụ thể cho thấy mọi sự đều là ân sủng. Những giúp đỡ ngài nhận được từ các cộng đoàn khác, thí dụ như Makêđônia... là những dấu hiệu của ân sủng.  Cả đến nguồn gốc Do thái của ngài cũng là một ân sủng lớn lao.  Nhiều lần thánh Phaolô đã buộc lòng phải nhắc lại nguồn gốc của mình khi phải đương đầu với nhóm người gốc Do thái sống ở hải ngoại.  Họ tự mãn với xuất xứ của họ:  chủng tộc Híp ri, tôn giáo Ítraen, tổ phụ Ápraham, Lời Hứa và Giao Ước.  Nhưng thánh Phaolô cũng hội đủ tất cả những điều kiện ấy để ngài có thể xưng mình là người Do thái hoàn hảo.  Chỉ có một điều thánh Phaolô hơn họ, đó là ngài luôn nhớ mình thuộc dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn và giờ đây lại trở thành Dân mới, thuộc về Đức Kitô.

            Nhưng trong cuộc sống, những lúc dễ nhận ra sự yếu đuối của mình và vai trò của ơn Chúa là khi phải đối phó với gian truân lúc thi hành sứ mệnh. Những gian khổ trong cuộc đời tông đồ của thánh Phaolô cho thấy bản thân thánh Phaolô không thể nào thắng vượt được nếu không hoàn toàn trông cậy vào sự can thiệp của ơn Chúa. Nhất là khi “thân xác ngài như đã bị một cái dằm đâm vào và một thủ hạ của Satan được sai đến để vả mặt ngài, để ngài khỏi tự cao tự đại,” ngài lại càng nhận rõ vai trò của ơn Chúa:  “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (12,9). Thái độ khiêm tốn và hãnh diện bắt nguồn từ chính Đức Kitô, Đấng đã biểu lộ sức mạnh của Thiên Chúa qua cái chết của Người trên thập giá. Ma quỷ và thế gian tưởng lấy cái chết để thắng được Đức Kitô, trái lại, Người lại lấy cái chết ô nhục ấy để đền bù tội lỗi nhân loại và chiến thắng cuối cùng của Người trên cái chết chính là sự Phục sinh.

 

˜™˜Ì™˜™

 

Sau khi tìm hiểu cách ứng xử của thánh Phaolô đối với những người chống đối ngài, chúng ta thấy thánh Phaolô chấp nhận và sống vui với những giới hạn của mình (tri chỉ !). Và đây chính là hành trang cho chúng ta xây dựng tình bác ái huynh đệ, nhờ đó mà bảo tồn và phát huy được cuộc ‘chung sống đời huynh đệ’ [6]. Vì “sự thánh thiện đan tu là ở đúng chỗ của mình trong Huyền Thể Cộng Đoàn. Đan sĩ nào không chịu ở vào đúng chỗ của mình trong Huyền Thể Cộng Đoàn, không chịu phát huy những khả năng Chúa ban để phục vụ Cộng Đoàn, sẽ tự loại mình ra khỏi Cộng Đoàn” [7]. ‘Ở vào đúng chỗ của mình trong Huyền Thể Cộng Đoàn’ chính là cách thế tốt nhất để bảo tồn và phát huy cuộc ‘chung sống đời huynh đệ’.

            Một người thực sự biết giới hạn của mình với thái độ khiêm tốn sẽ không bao giờ thất vọng về mình, trái lại biết cậy trông vào Chúa. Một Têrêsa Hài Đồng Giêsu biết chọn con đường nên thánh qua những việc làm nhỏ nhặt trong ngày sống. Một Martin De Porrès bằng lòng với công việc hèn mọn nhất trong tu viện. Quan trọng là mình làm hết khả năng, tất cả những gì còn lại là do Chúa. “Kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể” (1 Cr 3,7). Có được xác tín như vậy, chúng ta sẽ vui sướng chấp nhận giới hạn của mình, đồng thời nhận rõ sức mạnh của ơn Chúa. 

Hội Thánh khẳng định : “Hiệu quả của đời sống tu trì tùy thuộc vào phẩm chất của đời sống huynh đệ cộng đoàn” [8]. “Câu trả lời cho lời mời gọi cùng với Chúa kiên trì xây dựng Cộng Đoàn mỗi ngày diễn ra trên Đường Thánh Giá ; câu trả lời này đòi hỏi phải bỏ mình thường xuyên” [9]. Vâng :

Có khó mới có miếng ăn,

Ở nhưng ai dễ đem phần đến cho.

Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria Trinh Vương, Thánh Cả Giuse, xin Chúa ban cho anh em chúng ta học được bài học ‘xử thế’ của thánh Phaolô, để giúp chúng ta xây dựng Cộng Đoàn mình chính là Huyền Thể Chúa Kitô, bằng bổn phận hằng ngày, với những khả năng Chúa ban cho chúng ta.

Cám ơn anh em.

M. FranÇois De Sales Trần Minh Thái O.Cist.



[1] Ðời sống chung được nuôi dưỡng bằng giáo lý Phúc Âm, Phụng Vụ Thánh và nhất là Bí Tích Thánh Thể phải được duy trì trong lời cầu nguyện, trong sự hiệp thông cùng một tinh thần (x. CvSđ 2,42), theo gương Giáo Hội sơ khai, trong đó các tín hữu chỉ có một tấm lòng, một tâm hồn (x. CvSđ 4,32). Là chi thể Chúa Kitô, các tu sĩ hãy mang lấy gánh nặng của nhau (x. Gal 6,2), và trọng kính lẫn nhau trong tinh thần giao hảo huynh đệ (x. Rm 12,10). Thực vậy, khi được tình yêu của Thiên Chúa nhờ Chúa Thánh Thần tràn đầy trong mọi tâm hồn (x. Rm 5,5), cộng đoàn giống như một gia đình thực sự đoàn tụ nhân danh Chúa, được hưởng sự hiện diện của Ngài (x. Mt 18,20). Yêu mến là chu toàn luật pháp (x. Rm 13,10) và là dây liên kết sự trọn lành (x. Col 3,14); nhờ đức ái mà chúng ta biết rằng mình được chuyển từ cõi chết sang cõi sống (x. 1Gio 3,14). Hơn nữa, sự hiệp nhất huynh đệ loan báo Chúa Kitô đã đến (x. Gio 13,35; 17,21) và phát sinh một năng lực tông đồ mãnh liệt (số 15).

[2]

Giáo Luật số 602

Đời sống huynh đệ, thích hợp với mỗi tu hội, nhờ đó tất cả các thành viên được hiệp nhất với nhau trong Đức Kitô như trong một gia đình riêng, phải được xác định thế nào để trở nên một sự tương trợ lẫn nhau cho tất cả các thành viên trong việc chu toàn ơn gọi của mình. Như vậy, nhờ sự hiệp thông huynh đệ được bén rễ và được xây dựng trên Đức ái, các thành viên phải trở nên một mẫu gương của sự hòa giải đại đồng cho Đức Kitô.

 

Giáo Luật số 607

§2. Hội dòng là một xã hội, trong đó các thành viên tuyên giữ các lời khấn công vĩnh viễn hay tạm thời, nhưng họ phải tuyên khấn lại khi mãn hạn, tùy theo luật riêng, và chung sống đời huynh đệ.

 

Giáo Luật số 619

Các Bề Trên phải tận lực thi hành nhiệm vụ của mình, và trong sự hiệp nhất với các thành viên được trao phó cho mình, các ngài phải tìm cách xây dựng một cộng đoàn huynh đệ trong Đức Kitô, nơi đó Thiên Chúa được tìm kiếm và được yêu mến trên hết mọi sự. Vì vậy chính các Bề Trên phải thường xuyên nuôi dưỡng các thành viên bằng lương thực Lời Chúa và phải dẫn đưa họ tới việc cử hành phụng vụ. Các Bề Trên phải nêu gương cho họ trong việc thực hành các nhân đức, trong việc tuân giữ các luật lệ và các truyền thống của tu hội mình; các Bề Trên phải chu cấp xứng đáng các nhu cầu cá nhân của họ, phải ân cần chăm lo và viếng thăm những người đau yếu, phải sửa dạy những người vô kỷ luật, phải an ủi những người nhút nhát, và phải nhẫn nại với hết mọi người.

 

[3] 1. Tình yêu Đức Ki-tô đã quy tụ một số lớn các môn đệ nên một, để như Người và nhờ Người, trong Chúa Thánh Thần,  theo dòng thời gian, họ có thể đáp lại tình yêu của Chúa Cha, bằng cách  yêu mến Người ”hết lòng, hết dạ, hết sức” (x. Đnl 6,5) và yêu anh em ”như chính mình” (x. Mt 22,39).

Trong số các môn đệ này, những người đã cùng nhau quy tụ thành các cộng đoàn tu trì, những người nam và người nữ ”thuộc mọi dân,  mọi chi tộc, mọi nước và mọi  ngôn ngữ” (Kh 7,9) đã và vẫn còn  là biểu hiện hùng hồn của tình yêu  cao siêu và vô biên này.

Được sinh ra ”không do ý muốn của  xác thịt”, không bởi sự hấp  dẫn cá nhân, cũng không bởi động  lực con người, nhưng bởi ”Thiên  Chúa” (Ga 1,13), do lời mời gọi và  sự lôi cuốn siêu nhiên, các cộng  đoàn tu trì là dấu chỉ sống động  về sự tối thượng của tình  yêu Thiên Chúa, Đấng làm nên những  điều kỳ diệu, và về tình yêu  đối với Thiên Chúa và với  anh chị em mình như đã được  Đức Giê-su Ki-tô biểu lộ và  thực hiện.

 

[4] Tông Thư về Năm Đời Sống Thánh Hiến-2015 mục II, số 1.

[5] Tham chiếu Suy Niệm của Lm Đaminh Trần Đình Nhi

[6] Giáo Luật số 607§2

[7] Dom Guillaume Jedrzejczak.

[8] Huấn Thị “Đời sống huynh đệ trong Cộng Đoàn”, ngày 02-02-1994 – số 71.

[9] Đức Gio-an Phao-lô II, gửi phiên họp khoáng đại Thánh Bộ Các Hội Dòng Tận Hiến Và Các Tu Đoàn Tông Đồ,  20-11-1992, số 2.