Gợi Ý Tĩnh Tâm

Những Cám Dỗ

Chúng ta sẽ tìm hiểu một vài tư tưởng nền tảng của Đức Thánh Cha trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng, tiếp đến sẽ dừng lại một vài điểm nhấn để cuối cùng chúng ta tự hỏi những cám dỗ đó có liên hệ gì đến cuộc sống đan tu của chúng ta.

CHỦ ĐỀ NĂM 2015 : ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN ĐAN TU VÀ NIỀM VUI TIN MỪNG

THÁNG 4 NHỮNG CÁM DỖ”

 

Gợi ý : Viện Phụ Gioan Thánh Giá Lê Văn Đoàn

 

Cám Dỗ”, hai từ không gây chút hào hứng nào, vì gợi nên những “cạm bẫy” mà ai rơi vào sẽ nhận lấy những hậu qủa chẳng chút mong muốn.

Nhưng, trong thực tế, những thứ mà người ta gọi là cám dỗ,  đã mang lại những cảm giác dễ chịu trong một khoảng thời gian hoặc mang đến những vui khoái nhất định nào đó. Nhiều khi chúng ta cũng thích “được” cám dỗ! Và đã rất nhiều lần “sa vào” các chước cám dỗ. Hình ảnh của những người chạy theo lạc thú, rồi để duy trì “tình trạng ảo” của những khoái cảm đó bằng ma túy, rượu bia và tình dục… diễn tả rất rõ mãnh lực của cám dỗ! Nếu cuộc sống mà cứ để bị lôi cuốn theo những chiều cám dỗ, thử hỏi cuộc đời đó sẽ đi đâu? Sẽ là chạy trốn thực tại và hủy hoại sự sống!

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong tông huấn “Niềm Vui Của Tin Mừng” đã liệt kê một số cám dỗ của những người làm mục vụ. Khi đề cập đến những người làm mục vụ, phải chăng không liên quan đến chúng ta là các đan sĩ sống đời chiêm niệm không thực hiện những hoạt động mục vụ bên ngoài đan viện, và như thế, chúng ta vô can? Thật ra, những cám dỗ mà Đức Thánh Cha liệt kê không chỉ liên hệ đến những người làm mục vụ mà còn liên quan đến mọi người sống trong Giáo Hội của Chúa Kitô.

Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu một vài tư tưởng nền tảng của Đức Thánh Cha trong tông huấn, tiếp đến sẽ dừng lại một vài điểm nhấn để cuối cùng chúng ta tự hỏi những cám dỗ đó có liên hệ gì đến cuộc sống đan tu của chúng ta.

* * * * * * * * * *

1. NHỮNG TƯ TƯỞNG CHÍNH CỦA ĐỨC GIÁO HÒANG PHANXICO

Như chúng ta đã biết, tông huấn “NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG” (EVANGELII GAUDIUM) gồm 228 số được phân bổ trong 5 chương và phần dẫn nhập gồm 18 số nêu lên trọng tâm của tông huấn, đó là niềm vui của Tin Mừng.

Ngay trong phần Dẫn Nhập, Đức Thánh Cha đã khẳng định :

“Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và toàn thể đời sống của những người gặp gỡ Chúa Giêsu. Những người để cho mình được Người cứu độ, được giải thoát khỏi tội lỗi , buồn rầu, trống rỗng nội tâm và cô lập. Với Chúa Giêsu Kitô niềm vui được sinh ra và luôn tái sinh.” (s.1)

“Tôi mời gọi Kitô hữu, ở bất cứ nơi nào và hoàn cảnh nào, ngay lúc này, đổi mới cuộc gặp gỡ cá nhân của mình với Chúa Giêsu Kitô, hay ít ra, quyết định để cho Người gặp gỡ mình và không ngừng tìm kiếm Người mỗi ngày. Không có một lý do nào mà một người có thể nghĩ rằng lời mời gọi này không dành cho mình, bởi vì “không ai bị chối từ niềm vui mà Chúa mang đến. Chúa không làm cho những ai dám thực hiện cuộc mạo hiểm này phải thất vọng, và khi một người nào bước một bước nhỏ về Chúa Giêsu, người ấy nhận ra rằng mình được Người chờ đợi với vòng tay rộng mở.” (s.3)

“Có những Kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Phục Sinh. Tuy nhiên, tôi ý thức rằng người ta không sống niềm vui cùng một cách trong mọi giai đoạn và hoàn cảnh cuộc đời, nhất là trong những lúc khó khăn. Nó thích nghi và biến đổi, nhưng luôn tồn tại…” (s.6)

“Cám dỗ thường xuyên xuất hiện dưới hình thức những lời biện bạch và than trách, như cần phải có vô số điều kiện để có thể có niềm vui.” (s.7)

“Chỉ qua cuộc gặp gỡ này – hoặc cuộc gặp gỡ đổi mới – với tình yêu Thiên Chúa, là điều biến thành tình bằng hữu hạnh phúc, mà chúng ta được giải thoát khỏi tâm trạng cô lập và chỉ nghĩ về mình… Bởi vì một khi một người đã nhận được tình yêu này, là điều đem lại cho họ ý nghĩa cuộc đời, thì làm sao người ấy lại có thể ngồi yên được mà không truyền thông nó cho những người khác?” (s.8)

“Mọi người đều có quyền được nhận Tin Mừng. Các Kitô hữu có bổn phận phải công bố Tin Mừng mà không loại trừ bất cứ ai, không có vẻ như một người áp đặt một nhiệm vụ mới, nhưng như một người chia sẻ niềm vui, vạch ra một chân trời đẹp, cung cấp một bữa tiệc đáng mong muốn. Hội Thánh không phát triển bởi việc cải đạo nhưng bởi sự ‘hấp dẫn’.” (s.14)

Để triển khai những tư tưởng nền tảng trên, Đức Thánh Cha đã phân chia tông huấn thành 5 chương với những nội dung chính :

Chương I : SỰ BIẾN ĐỔI CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO CỦA HỘI THÁNH

Chương II : GIỮA CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ VIỆC THAM GIA CỘNG ĐỒNG

Chương III : VIỆC CÔNG BỐ TIN MỪNG

Chương IV : CHIỀU KÍCH XÃ HỘI CỦA VIỆC PHÚC ÂM HÓA

Chương V : NHỮNG NGƯỜI RAO GIẢNG TIN MỪNG ĐẦY THÁNH THẦN

Phần suy niệm của chúng ta về tông huấn thuộc phần thứ hai của chương II. Phần này gồm 33 số (76-109), trong đó Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói đến “NHỮNG CÁM DỖ CỦA NHỮNG NGƯỜI LÀM MỤC VỤ”. Ngài triển khai rộng hơn điều đã được thông báo trong phần dãn nhập khi ngài nói đến chủ nghĩa cá nhân, sự cô lập và chỉ nghĩ về mình.

Đức Thánh Cha đã sử dụng hai kiểu nói để xếp loại các thứ cám dỗ mà những người thi hành mục cụ có thể rơi vào (và chắc chắn đã rơi vào, vì ngài đã liệt kê!) : NÓI “CÓ” VÀ NÓI “KHÔNG”

A. Trước hết, NÓI “CÓ”

- NÓI CÓ VỚI NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA MỘT LINH ĐẠO TRUYỀN GIÁO (78-80).

- NÓI CÓ VỚI NHỮNG MỐI QUAN HỆ MỚI ĐƯỢC MANG ĐẾN BỞI CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ (87-92).

 

B. Tiếp đến, NÓI “KHÔNG”

- NÓI KHÔNG VỚI SỰ ƯƠN LƯỜI ÍCH KỶ (81-83)

- NÓI KHÔNG VỚI THUYẾT BI QUAN VÔ BỔ (84-86).

- NÓI KHÔNG VỚI TINH THẦN THẾ TỤC (93-97).

- NÓI KHÔNG VỚI CHIẾN TRANH GIỮA CHÚNG TA (98-101)

C. Ngoài ra, Đức Thánh Cha cũng nêu lên một số thách đố khác mà Giáo Hội phải đối diện trong công cuộc loan báo Tin Mừng (102-109).

Bây giờ chúng ta có thể đi vào nội dung của tông huấn, phần liên quan đến suy niệm của chúng ta.

Trước khi đề cập đến việc nói “có” và “không”, Đức Thánh Cha, trong hai số 76 và 77, đã nói lên tâm tình tri ân đối với tất cả những người làm việc trong Giáo Hội, những người đã hiến cuộc đời cho tình yêu và với niềm vui. Cùng với lòng biết ơn, Đức Thánh Cha mời gọi chú ý đến một số cám dỗ có ảnh hưởng đặc biệt đến những người làm việc mục vụ.

Đức Thánh Cha trình bày đan xen giữ nói “có” (nghĩa là đồng thuận để thực hiện) và nói “không” (nghĩa là từ chối, loại bỏ). Để có thể hiểu những điểm nhấn ngài muốn đề cập, chúng ta xếp lại theo trình tự, trước hết nói “có” và sau đó nói “không”.

Nhưng chúng ta cũng nhận thấy rằng, ngay khi ngài đề cập đến việc nói “có”, thì những cái nguy cơ, cám dỗ, vẫn được đề cập đến.

A. Trước hết, NÓI “CÓ”

- NÓI CÓ VỚI NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA MỘT LINH ĐẠO TRUYỀN GIÁO (78-80).

Nét linh đạo truyền giáo được đề cập nơi đây là chính NIỀM VUI: niềm vui của sứ vụ. Và khi đã cảm nghiệm được chính niềm vui này, những ai thi hành mục vụ, sẽ NHIỆT TÂM. Niềm vui như là nguyên nhân cho chính nhiệt tâm truyền giáo. Đồng thời, chính nhiệt tâm cũng sẽ làm tăng thêm niềm vui. Như vậy, có sự liên kết mật thiết giữa niềm vui và nhiệt tâm.

Nhưng, như chúng ta vừa nói, ngay khi đề cập đến nét linh đạo truyền giáo này, Đức Thánh Cha nói ngay đến những cám dỗ, nhưng nguy cơ rình làm hao mòn nhiệt tâm. Những cám dỗ nào?

+  Cá nhân chủ nghĩa. Nghĩa là khi những người thi hành mục vụ mà chỉ nghĩ đến mình, cái “TÔI” của chính mình. Đâu là những biểu hiện?

© bận tâm quá đáng về tự do cá nhân và giải trí của mình !

© thu mình trong vài an ủi thiêng liêng, không mở ra. Một sự đóng kín !

© gắn bó với những bảo đảm kinh tế, quyền hành và vinh quang bản thân !

© rơi vào chủ thuyết ‘tương đối hóa” : hành động như thể không có Thiên Chúa, quyết định như thể không có người nghèo, mơ ước mà không có tha nhân, không cần truyền giáo !

  • Ø Một vòng ma quái : chủ nghĩa cá nhân – khủng hoảng căn tính – nhiệt tâm chết mòn !

- NÓI CÓ VỚI NHỮNG MỐI QUAN HỆ MỚI ĐƯỢC MANG ĐẾN BỞI CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ (87-92).

Những người thi hành mục vụ, rao giảng Tin Mừng phải là những con người “MỞ RỘNG”. Nhưng đâu là đặc điểm của sự rộng mở này?

© sống chung chân tình : “sống chung và hòa đồng với nhau, để gặp gỡ, ôm trong vòng tay, nâng đỡ”…

© cùng tiến bước “trong cuộc hành hương thánh” : rất tốt, rất chữa lành, rất thanh thoát, tạo ra nhiều hy vọng.

© hiện diện trong thực tại : gặp gỡ khuôn mặt người khác, với sự hiện diện thể lý, với những đau khổ và những đòi hỏi của họ, với niềm vui hay lây của họ trong một sự tiếp xúc liên tục giữa người với người.

Nhưng, khi nói có với những mối tương giao cụ thể và thân tình, Đức Thánh Cha lại đề cập đến một cám dỗ trái ngược. Cám dỗ nào?

+ Sự cô lập. Giam hãm mình trong nội tại.

© Đây là một hình thức của thuyết nội tại. Một sự tự lập loại trừ Thiên Chúa. Một hình thức của chủ thuyết tiêu thụ tinh thần trong phạm vi cá nhân chủ nghĩa bệnh hoạn !

© Đưa ra những giải pháp xa lạ với một Đức Giê-su Ki-tô không có thân xác (không nhập thể) và không có nghĩa vụ gì với nhau (không nhập thế) !

© Những hình thức của một thứ “hạnh phúc tinh thần” không có cộng đồng ! Một “nền thần học về thịnh vượng” mà không cần dấn thân huynh đệ ! Những kinh nghiệm chủ quan không chân dung!

© Chạy trốn tha nhân : khỏi nhãn quan của người khác – chạy trốn nơi ở và công tác – không tương giao sâu xa và bề vững !

  • Ø Một cuộc tìm kiếm ích kỷ bên trong !

Ä MỞ RỘNG NHỜ CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ :

© Khám phá ra Chúa Giê-su trong khuôn mặt của những người khác.

© Ôm chặt lấy Chúa Giê-su chịu đóng đinh khi bị đả kích bất công, vô ơn.

 Ø Không bao giờ mệt mỏi chọn tình huynh đệ.

  • Ø Xây dựng một tình huynh đệ huyền nhiệm và chiêm niệm : sự cao quí thánh thiện của tha nhân, tìm thấy Thiên Chúa trong mỗi con người, chung sống bằng cách bám chặt vào tinh yêu Thiên Chúa, mở rộng tâm hồn cho tình yêu để tìm kiếm hạnh phúc cho tha nhân.

 

B. Tiếp đến, NÓI “KHÔNG”

Nói “không” là không chấp nhận, không để bị mê hoặc, không để mình rơi vào cám dỗ. Cần phải can đảm và kiên vững mới có thể nói “không”, trả lời “không”.

- NÓI KHÔNG VỚI SỰ ƯƠN LƯỜI ÍCH KỶ (81-83)

Ươn lười ích kỷ là hệ quả của cá nhân chủ nghĩa. Chúng ta đi vào phân tích của Đức Thánh Cha Phanxicô. Ngài rất cụ thể, vì thế ngài nêu lên những biểu hiện bên ngoài, để từ đó nhận ra tâm trạng bên trong.

+ Trốn tránh trách nhiệm, không dấn thân, chẳng có cam kết nào !

© Tại sao? – Bận tâm quá đến thời giờ rảnh rỗi riêng tư – tuyệt đối bảo tồn không gian tự chủ

  • Ø Trạng thái ươn lười làm tê liệt. Không toàn tâm toàn lực, không hoàn toàn cho sứ vụ !

+ Cách thức hoạt động : tồi tệ, không đủ hứng thú, không thấm nhuần linh đạo.

© Tại sao ?

- Hoạch định những dự án thiếu khả thi – không hài lòng với những gì khả thi – không kiên nhẫn trước khó khăn !

- Xây những ước mơ thành công được vun trồng bởi tình khoa trương !

- Quan tâm đến tổ chức hơn nhân sự - hứng thú với “bảng lộ trình” hơn chính lộ trình !

- Nóng vội, không biết chờ đợi, khó chấp nhận một chút mâu thuẫn, có thể thất bại, bị chỉ trích, khổ đau (thập giá) !

© Hậu quả?

- Quá mệt mỏi (stress) và bị bệnh (tâm thể lý) !

- Dần dần hình thành “chủ nghĩa thực dụng đáng buồn” : đức tin bị sói mòn và tầm thường !

- Tâm lý nấm mồ - trở thành những xác ướp trong bảo tàng viện !

- Thất vọng tất cả, không niềm hy vọng, u buồn êm dịu : rượu quí của ma quỉ !

  • Ø Bị quyến rũ bởi những điều chỉ tạo ra bóng tối và mệt mỏi nội tâm !

 

- NÓI KHÔNG VỚI THUYẾT BI QUAN VÔ BỔ (84-86)

© Tại sao lại rơi vào thuyết bi quan cằn cỗi này ? – Đó là khi đối diện với thực tế. Thực tế nào?

- Những sự dữ trong thế giới, nơi Giáo Hội ! Tình trạng đen tối ! “Sa mạc hóa về tâm linh” !

© Đâu là phản ứng tích cực và phản ứng tiêu cực ?

- Phản ứng tiêu cực : cảm giác thất bại, bi quan, bất mãn, thất vọng.  

“Không ai có thể ra trận nếu không nắm chắc phần thắng. Ai bắt đầu mà không có lòng tự tin thì đã thua trước một nửa trận chiến và chôn vùi tài năng của mình.”

“Thần dữ chủ bại là anh em của sự cám dỗ muốn tách lúa ra khỏi cỏ dại không đúng lúc, là sản phẩm của sự lo âu thiếu tin tưởng và qui về mình.”

- Phản ứng tích cực : không lạc quan ngây thơ, nhưng là đức tin.

“Hãy coi chúng (sự dữ) như những thách đố để lớn lên.”

“Đức tin của chúng ta được thách đố để thấy nước có thể hóa thành rượu, và khám phá hạt giống lớn lên ngay giữa đám cỏ lùng.”

“Chính từ việc kinh nghiệm từ hoang địa này, sự trống rỗng này, mà chúng ta có thể một lần nữa khám phá ra niềm vui của đức tin, tầm quan trọng sống còn của nó đới với chúng ta, những người nam nữ.”

“Trong hoang địa, người ta khám phá ra giá trị của những gì thiết yếu cho cuộc sống, các dấu chỉ khao khát Thiên Chúa ngay trong thế giới hiện tại, ý nghĩa tối thượng cho cuộc sống, những giá trị này rất nhiều dù được biểu lộ cách ẩn kín hay tiêu cực.”

- NÓI KHÔNG VỚI TINH THẦN THẾ TỤC (93-97)

© Đâu là dấu chỉ của những người rơi vào tinh thần thế tục?

- Tinh thần thế tục là tinh thần nấp đằng sau những vẻ đạo đức bên ngoài và ngay cả tình yêu đối với Giáo Hội, để tìm vinh quang và phúc lộc của con người.

- Rất nguy hiểm và tai hại, vì nhìn vẻ bên ngoài mọi sự đều có vẻ đúng đắn, nhưng nó sẽ tai hại vô cùng so với bất kỳ loại thế tục mang chiều kích luân lý.”

© Tinh thần thế tục được nuôi dưỡng bằng cách nào?

- bằng sức lôi cuốn của thuyết Ngộ Đạo, một niềm tin bị đóng kín trong thuyết Duy Ngã : đóng kín trong kinh nghiệm, lý luận, nhận thức và cảm xúc riêng của mình.

- bằng thuyết Tân Pélagus : quá tin vào sức mình và chỉ nghỉ đến mình, luôn nghĩ mình đúng.

  • Ø Đây là những biểu hiện của học thuyết nội tại đặt con người làm trung tâm của vũ trụ.

© Đâu là những cách biểu lộ tinh thần của thế tục?

- lo lắng phô trương về phụng vụ, về tín lý hay uy thế của Giáo Hội, nhưng không chú tâm vào việc hội nhập Tin Mừng vào trong dân chúng và trong các nhu cầu cụ thể của lịch sử.

- say mê quyền lực bằng việc phô trương những thành tích xã hội và chính trị, một cuộc sống xã hội bận rộn đầy những cuộc du lịch, hội họp, tiệc tùng và tiếp tân.

- chủ trương tác vụ quản lý, đầy thống kê, lịch trình và lượng giá.

  • Ø Không còn lòng nhiệt thành truyền giáo nữa, mà chỉ nghĩ đến hưởng thụ sai lệch của một thứ tự mãn.

© Hậu quả của tinh thần thế tục?

- hài lòng về một số quyền hành và muốn trở thành “những tướng lãnh của một đạo quân bại trận hơn là các anh lính đơn sơ của một đội ngũ vẫn tiếp tục chiến đấu”.

- xử sự như những kẻ kiêu ngạo, chỉ biết nói điều “người ta phải làm” như những thầy linh đạo và các chuyên gia mục vụ, đưa ra những chỉ thị, nhưng hoàn toàn đứng bên ngoài.

- sẽ nhìn từ trên cao và nhìn từ xa, thu hẹp vào khung trời kép kín của nội tại và tư lợi của mình.

  • Ø Đây là một sự thối nát khủng khiếp đội lốt vẻ bề ngoài tốt lành, ẩn nấp sau những bức phông tinh thần và mục vụ hời hợt!
  • Ø tinh thần thế tục ngột ngạt này chỉ được chữa lành khi tiếp xúc không khí trong lành của Chúa Thánh Thần.

 

- NÓI KHÔNG VỚI CHIẾN TRANH GIỮA CHÚNG TA (98-101)

© Nhận định :

- Có biết bao cuộc chiến tranh trong Dân Chúa, trong các cộng đồng khác nhau! Thế giới rách nát vì chiến tranh và bạo lực.

- Có những người nuôi dưỡng bất hòa, chia rẽ phe nhóm, tự xem mình khác biệt hoặc đặc biệt.

- Cảm thấy rất đau lòng khi khám phá nơi một số cộng đồng kitô hữu và giữa những người sống đời thánh hiến, còn có chỗ cho các hình thức khác nhau của hận thù, chia rẽ, vu khống, nói xấu, trả thù, ghen ghét…

© Tại sao có chiến tranh giữa chúng ta?

- chủ nghĩa cá nhân : ham muốn, ghen tỵ, chống đối nhau trong việc tìm kiến hạnh phúc riêng tư.

© Hậu quả?

- Phản chứng : Làm sao rao giảng Tin Mừng ?

© Những phương thế đẩy lui chiến tranh giữa chúng ta?

- Chứng từ của một cộng đồng huynh đệ và hòa giải. Thương yêu nhau trên hết mọi sự!

- Cầu nguyện cho những người chúng ta đang giận dữ là một bước dài tiến về phía tình yêu, và đó là một hành động loan báo Tin Mừng.

2. NHỮNG ĐIỂM NHẤN

Trong khi triển khai những cám dỗ mà mọi Kitô hữu nói chung, và những người thi hành công tác mục vụ, có nguy cơ rơi vào, Đức Thánh Cha Phanxicô đã dùng kiểu nói “ĐỪNG ĐỂ BỊ CƯỚP MẤT…!” để nhấn mạnh đến những yếu tố quan trọng có thể bị đánh cướp mất.

© “Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất nhiệt tâm truyền giáo!” (s.80)

© “Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất niềm vui của việc loan báo Tin Mừng!” (s.83)

© “Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất niềm hy vọng!” (s.86)

© “Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất cộng đồng!” (s.92)

© “Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất Tin Mừng!” (s.97)

© “Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất tình huynh đệ” (s.101)

Câu hỏi được đặt ra là tại sao lại bị cướp mất? Ai cướp? Cướp bằng cách nào? Và đâu là những hậu quả khi bị trắng tay?

Chúng ta phải xác tín rằng những điều được nêu lên tên kia là những thứ quí giá, không những mang lại cho bản thân giá trị chân thực và còn đem đến cho người khác, cho Giáo Hội và thế giới, ý nghĩa cho cuộc sống tràn đầy.

- Trước hết là Tin Mừng. Tin Mừng chính là “TIN MỪNG”. Đây là điều mà Chúa Giêsu đã mang đến trần gian này qua lời, hành động và cuộc sống của Ngài. Hơn nữa, Ngài chính là Tin Mừng. Đây là “HỒN SỐNG” của Giáo Hội, của mọi Kitô hữu. Nếu Tin Mừng bị cướp mất, nếu hồn sống không còn, thì hậu quả sẽ ra sao? Không còn sự sống, không còn niềm vui. Tin Mừng chính là Tin Vui. Ai có thể cướp được Tin Mừng khỏi chúng ta? Ma quỉ không có quyền, nếu chúng ta không thỏa hiệp với nó để nó cướp mất. Nhưng chính cuộc sống phản Tin Mừng – phản chứng – làm hao mòn và đánh mất hồn sống đó. Khi Đức Thánh Cha phân tích những hiện tượng mà chúng ta phân tích trên kia, phải chăng ngài muốn nói đến nguy cơ đe dọa bị đánh cướp mất khi rơi vào những thứ “cám dỗ” đó?

- Tiếp đến là “NHIỆT TÂM TUYỀN GIÁO”. Đây là hoa trái của chính Tin Mừng. Một cuộc sống được chất Tin Mừng, một cuộc đời sống động bằng hồn Tin Mừng, sẽ năng động và nhiệt tâm cho việc Loan Báo Tin Mừng (= truyền giáo). Nhưng rồi có những thứ đến thay thế, đánh cắp mất nhiệt tâm, vì chúng làm cho nặng nề cuộc sống, không còn muốn đến với tha nhân, chỉ biết nhốt kín mình trong trong cái tôi ích kỷ. Ma quỉ chẳng cướp mất nhiệt tâm truyền giáo, nhưng chính sự chán nản, thất vọng, vỡ mộng, làm chùn bước chân, làm ngưng trệ dòng nhiệt huyết. Chính tâm trạng bên trong, chứ không phải hoàn cảnh bên ngoài, làm hao mòn và giết chết nhiệt tâm tông đồ.

- Và một khi xảy ra tình trạng như thế, không còn khả năng tạo ra một “môi sinh” và một “chân trời” cho mình cũng như cho tha nhân. Môi sinh cho việc Loan Báo Tin Mừng, chính là “CỘNG ĐỒNG” được linh động và nuôi dưỡng bằng “TÌNH HUYNH ĐỆ”. Nếu trong cuộc chiến, người ta “phòng thủ” trong những “hầm cá nhân”, thì trong công cuộc Loan Báo Tin Mừng, nếu xảy ra một cách thức như vậy, nghĩa là cố thủ chứ không tiến lên, không đến gặp gỡ để tha thứ và hòa giải, thì thử hỏi đó là loại tin nào, có là tin mừng, tin vui, tin giải thoát?! Ma quỉ không có quyền cướp mất cộng đồng (cộng đoàn) hay tình huynh đệ, mà chính cái tôi ghen ghét, oán thù, ích kỷ, cô lập,  đánh úp và cướp mất. Nghĩa là “cái bên trong tôi” cướp mất khỏi tôi. Môi sinh bên trong bị tàn phá, thì môi sinh bên ngoài cũng tan nát. Môi sinh bên trong đã bị ô nhiễm nặng, thì môi sinh bên ngoài cũng bị tác hại nghiêm trọng.

- Và cuối cùng, nếu môi sinh không còn – nghĩa là không còn cộng đồng, không còn tình huynh đệ, vì bị cướp mất rồi -, thì đương nhiên hậu quả là chẳng còn chân trời tươi sáng nữa. “chân trời” của việc Loan báo Tin Mừng là chính “NIỀM HY VỌNG”. Nhưng niềm hy vộng đó là gì? Chúa Kitô phải là niềm hy vọng cho con người, để từ đó những niềm hy vọng khác được sống, được chiếu sáng và quang tỏa trên Giáo Hội và gia đình nhân loại. Chính Chúa Giêsu là sứ giả Loan Báo Tin Mừng Hy Vọng. Nếu chân trời không tươi sáng có còn sức hấp dẫn, có còn thu phục được ai không? Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định là Giáo Hội tăng trưởng là do sự hấp dẫn. Nhưng điều gì đánh cắp chân trời hy vọng? Ma quỉ nó gieo tối tăm, nó nói thầm vào tai chúng ta những bi quan, yếm thế, chán nản… Đức Thánh Cha đã nhắc nhở điều đó nhiều lần. Ma quỉ ở bên ngoài, nó rỉ tai thôi, chứ nó không có quyền lực gì trên chúng ta, nếu chúng ta có ĐỨC TIN kiên vững. Vậy, cái đánh cướp mất niềm hy vọng, bôi đen chân trời, làm tối sầm chân trời, là cái ở trong chúng ta. “Đôi Mắt”. “Đôi Mắt Tâm Hồn”. Chúng ta nhìn và chúng ta giúp người khác nhìn với ÁNH NHÌN nào? “Đèn của thân thể là con mắt. Nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào?” (Mt 6.22-23).

Phải chăng khi dùng thuật ngữ “đừng để bị cướp mất…”, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta làm một cuộc duyệt xét thẳng thắn lương tâm, để thẩm định xem chúng ta đã bị cướp mất những điều quan trọng trên hay chưa? Không phải một thứ kiểm điểm hời hợt, mà nhìn thẳng vào cuộc sống với những nếp suy nghĩ, những lối hành động, những kiểu cách sống.

 

3. NHỮNG CÁM DỖ ĐÓ CÓ GÌ LIÊN HỆ ĐẾN CUỘC SỐNG ĐAN TU CỦA CHÚNG TA?

Để những suy tư và việc tự vấn lương tâm (cá nhân và cộng đoàn) có nền tảng cũng như thiết thực cho cuộc sống đan tu của chúng ta, thiết tưởng chúng ta nên dựa vào những gì Cha Thánh Biển Đức và Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã sống, đã dạy trong mối liên hệ với những cám dỗ mà Đức Thánh Cha đã nêu lên trong tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng.

a. CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

© Đức Thánh Cha nêu lên sự tàn phá của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, chỉ chăm chú đến cái tôi của bản thân. Cám dỗ rất thực tế này liên quan đến yếu tính của ơn gọi chúng ta, ơn gọi đan tu xitô Thánh Gia mà Cha Tổ Phụ Biển Đức đã thiết lập.

Đời sống và giáo huấn của Cha Tổ Phụ luôn đan kết giữa hai trục : nỗ lực nên thánh nhiệt tâm tông đồ.

Điều này chúng ta chúng ta đã quá biết rõ. Cầu nguyện, hy sinh để ngày nên thánh thiện luôn song hành với việc cầu nguyện và hy sinh để cho nhiều người được nhận biết và yêu mến Chúa.

Chúng ta xét xem cuộc sống của chúng ta có thực sự được tăng triển trên hai trục chính này không? Tâm hồn của chúng ta có “mở rộng” cho việc thao thức có thêm những người chưa nhận biết Chúa hay “đóng kín” trong những thứ tìm kiếm tư lợi? Và như vậy, niềm vui thật của chúng ta ở đâu? Chúng ta có nghiệm thấy hạnh phúc, ý nghĩa cuộc sống khi được Tin Mừng của Chúa hướng dẫn và nuôi sống; và chỉ nhờ thế, chúng ta mới nhiệt tâm mong ước cho Tin Mừng của Chúa được loan báo? Cuộc sống của chúng ta phong nhiêu nhờ đại cuộc của Chúa hay cằn cỗi vì những tính toán, kế hoạch ích kỷ cá nhân?

b. TINH THẦN THẾ TỤC

© Đức Thánh Cha Phanxicô đã nêu lên mối nguy cơ của tinh thần thế tục. Đó là một nguy cơ thật sự không những cho công cuộc loan báo Tin Mừng mà ngay cho sự sống của Giáo Hội, của các cộng đoàn Kitô và của từng người. Ngài khẳng định : “Đây là một sự thối nát khủng khiếp đội lốt một vẻ bề ngoài tốt lành” (s.97).

Cha Thánh Biển Đức đã vẽ chân dung của loại đan sĩ thứ ba là “tự tu” : Loại thứ ba thật đáng ghét, đó là các đan sĩ tự tu. Họ không được một tu luật nào là bậc thầy kinh nghiệm tôi luyện như vàng được tinh luyện trong lò, nên tính nết vẫn còn ủy mị như chì; qua cách sống, họ chứng tỏ còn mê theo thói đời. Hiển nhiên là họ lấy việc cắt tỏc đi tu mà dối Chúa. Họ sống từng hai, từng ba, hoặc một mình, không có chủ chăn. Họ không thuộc đàn chiên Chúa, nhưng sống một đàn riêng. Lề luật của họ là thỏa mãn các dục vọng! Hễ điều gì họ nghĩ hoặc ưa thích thì họ cho là thánh thiện. Còn điều gì không vừa ý, họ cho là không nên.” Chúng ta cần ghi nhận nhận định của Cha Thánh Biển Đức : “họ chứng tỏ còn mê theo thói đời. Hiển nhiên là họ lấy việc cắt tóc đi tu mà dối Chúa”.

Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, trong giáo huấn thiêng liêng, đã nêu ra một số yếu tố để nhận định “khi nào gọi là nhà dòng hư?”, và kết luận : “Nếu chúng ta xét mình rồi, thấy cách ăn nết ở của mình như người thế gian, không muốn sửa mình lại, cha xin kẻ ấy về cho rồi, thà làm một người bổn đạo thường cũng được, chớ đừng ở đây mà làm gương mù gương xấu cho anh em. Ngăn trở kẻ khác đi đường nhân đức, là điều rất thiệt cho nhà dòng. Cha cũng mong có đông anh em, nhưng có số đông thầy dòng mà chẳng ra gì, thà ít mà thật là thầy dòng thì tốt hơn.”

c. CHIẾN TRANH GIỮA CHÚNG TA

Đức Thánh Cha Phanxicô đã “cảm thấy rất đau lòng khi khám phá ra rằng làm sao trong một số cộng đồng Kitô hữu và thậm chí giữa những người được thánh hiến, còn có chỗ cho các hình thức khác nhau của hận thù, chia rẽ, vu khống, nói xấu, trả thù, ghen ghét, mong muốn áp đặt tư tưởng của mình với bất chứ giá nào, để đàn áp tương tự như một cuộc tróc nã phù thủy không thương xót”. Và ngài thốt lên : “Chúng ta sẽ rao giảng Tin Mừng cho ai với những hành vi như thế?

Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 22 tháng 12 năm 2014 dành cho các vị lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh đến chúc mừng lễ Giáng Sinh, Đức Thánh Cha đã liệt kê 15 thứ bệnh mà bất cứ người phục vụ nào cũng có thể mắc phải. Đây là căn bệnh thứ 9 : “Bệnh ngồi lê đôi mách, lẩm bẩm và nói hành. Tôi đã nói nhiều về bệnh này nhưng sẽ không bao giờ nói cho đủ. Nó là một bệnh nặng nhưng khởi sự lại rất đơn giản bằng đôi ba chuyện phiếm, nhưng rồi làm cho con người thành như kẻ gieo rắc cỏ dại (như Satan), và trong nhiều trường hợp, họ trở thành kẻ “sát nhân máu lạnh”, hủy hoại danh thơm tiếng tốt của đồng nghiệp và anh em mình. Đó là bệnh của những người hèn nhát, không có can đảm nói thẳng, mà chỉ nói sau lưng… Hỡi anh em, chúng ta hãy giữ mình khỏi tật khủng bố người khác bằng việc nói hành nói xấu.”

Cha Thánh Biển Đức đã nêu lên một cuộc chiến tranh giữa viện phụ và viện phó như điển hình của những cuộc chiến do ghen tương, tranh dành quyền lực… “ Trong các đan viện thường nảy sinh những gương xấu trầm trọng do việc phong viện phó. Quả thế, có những kẻ bị thần dữ kiêu căng xui xiểm tự coi mình là viện phụ thứ hai, nên tranh quyền đoạt vị gây gương xấu và gieo bất hoà trong cộng đoàn; nhất là những nơi viện phó được phong bởi chính vị tư tế hay bởi các viện phụ đã chúc phong viện phụ mình. Ai cũng dễ thấy việc làm như thế là phi lý chừng nào, bởi lẽ ngay từ đầu, khi vừa được phong, viện phó đã có lý do để kiêu căng,nghĩ mình đã thoát quyền viện phụ,  vì lẽ mình cũng được phong bởi chính các vị đã chúc phong viện phụ.  Từ đó nảy sinh những chuyện ghen tương cãi vã, nói hành tranh chấp, bất hoà rối loạn.  Một khi viện phụ và viện phó đã có những tâm tình xung khắc nhau và mối bất hoà cứ kéo dài như thế, linh hồn các ngài tránh sao được những hiểm nguy.  Và kẻ bề dưới hùa theo phe này phe nọ, tất cũng lâm vào cảnh diệt vong.  Hậu quả của hiểm hoạ này đổ lên đầu những ai đã gây nên tình trạng hỗn loạn như thế.”

Cha Tổ Phụ Biển Dức Thuận đã chẩn bệnh “nhà dòng hư” với những triệu chứng “ăn nói như người đời, anh em không thương yêu nhau, không bằng lòng với Bề trên và với nhau, tập hợp xầm xì mà tra xét việc Bề trên, chê trách nhau, chê trách đồ ăn thức uống không ngon…” và kết luận “khi ấy nhà dòng ra hư rồi đó, không còn chi là nhà dòng nữa”.

Cộng đoàn chúng ta và từng anh em đang xây dựng nên một môi sinh nào đây? Một cộng đoàn đan tu trở thành “trường học phụng sự Thiên Chúa” và “trường học đức ái” hay “trường đời”? Phải chăng đó là một môi sinh mà bầu khí là trong lành của tình huynh đệ hay ghen tương với những thói xấu như nói hành, trả đũa để hạ nhục người anh em? Phải chăng môi sinh nội tâm của mỗi người là bình an và niềm vui của Chúa, hay là những bức xúc và càm ràm? Phải chăng môi sinh của cộng đoàn chúng ta là an bình và yêu thương hay là căng thẳng và chán ghét?

d. CẢM GIÁC THẤT BẠI, BI QUAN BẤT MÃN VÀ THẤT VỌNG

Đức Thánh Cha Phanxicô đã kêu mời chúng ta, khi đối diện với những sự dữ, những sa mạc về tâm linh, những tình trạng đen tối, đừng để mình bị cướp mất niềm hy vọng. Nghĩa là đức tin phải chiếu sáng để hướng tới chân trời hy vọng.

Trong “Tông Thư gửi tất cả những người tận hiến nhân dịp năm sống đời thánh hiến”, Đức Thánh Cha nêu lên mục tiêu thứ ba của năm nay là “nhắm đến tương lai với niềm hy vọng”. Ngài viết : “Chúng ta biết rằng đời sống thánh hiến đang gặp nhiều khó khăn dưới mọi hình thức… Giữa những hoang mang mà chúng ta cùng chia sẻ với bao nhiêu người đương thời, bừng lên niềm hy vọng của chúng ta, là hoa trái của đức tin vào Đấng làm chủ lịch sử và không ngừng lập lại với chúng ta: “Đừng sợ… Ta đang ở với con.”

Cha Thánh Biển Đức, trong chương khi liệt kê các khí cụ làm việc lành, đã nêu lên một khí cụ cuối cùng quan trọng nhất, đó là “không bao giờ thất vọng về lòng thương xót của Chúa”.

Cha Tổ Phụ Biển Đức đã đưa ra một vài phương thế để chữa lành nhà dòng hư và đem lại hy vọng cho tương lai : “Chúng ta ai nấy phải hãm mình, cầu xin Chúa ban lại sự sốt sắng ngày xưa. Nếu có sức sửa lại điều chi thì lo sửa, nhất là ra sức lo giữ luật dòng cho kỹ càng chín chắn hơn, để làm gương cho kẻ khác. Nếu mình đã làm hết sức, vẫn thấy chưa được việc chi, chớ ngã lòng, hãy cứ một mực làm như vậy mà đợi cho đến thời giờ Chúa muốn, vì lời cầu nguyện sẽ sinh ích luôn. Chúa đã phán: Ai xin sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ cửa sẽ mở cho”, mà Lời Chúa phán thì chăc thật, nên hãy kiên tâm chờ đợi. Đó là thầy dòng tốt, thầy dòng thánh.” Qua giáo huấn này, Cha Tổ Phụ nhấn mạnh đến hai yếu tố của niềm hy vọng : “sai thì sửa” và “khó thì cầu nguyện”.

Chúng ta đã có tâm trạng và hành động nào khi đối diện với nhung bóng tối, những vấn đề - đôi khi gai góc – của cá nhân và cộng đoàn? Chúng ta có quyết tâm đủ chưa trong việc hoán cải, canh tân đời sống, mà Cha Tổ Phụ mời gọi “hãy bắt đầu lại”, hay vẫn cứ muốn sống ù lì, dừng nhịp tiến? Chúng ta đã cầu nguyện và kiên trì cầu nguyện chưa? Và, qua lời nói và cách hành xử, chúng ta là những “người gieo hạt giống hy vọng” không?

* * * * * * * * * *

“XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON XA CHƯỚC CÁM DỖ”

Đâu là thái độ của chúng ta trước những “cơn cám dỗ” mà Đức Thánh Cha đã nêu lên trong tông huấn Niềm Vui Của Tin Mừng, và chúng ta đang suy niệm. Phải chăng là chạy trốn?

Chúa Giêsu đã từng đối diện với những cơn cám dỗ khi sắp bắt đầu công cuộc loan báo Tin Mừng. Ngài đã không để rơi vào những thứ cám dỗ được đề nghị với Ngài. Đó là những “đề nghị” xem ra rất hấp dẫn khi để mình hành động một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu cá nhân (biến đá thành bánh), khi để mình bị mê hoặc bởi những gì thế tục (vinh hoa lợi lộc trần gian), khi để mình đi theo con đường cá nhân mà không đi theo lộ trình của Thiên Chúa (con đường tắt khi gieo mình từ nóc đền thờ xuống). Những cám dỗ đó có mục đích làm lệch hướng đời sống của Chúa Giêsu và làm cho Ngài không dấn thân vào con đường loan báo Tin Mừng.

Chúng ta cũng phải đối diện với những cám dỗ trong chính cuộc sống. Những cám dỗ đó, có thể là những đề nghị chúng ta nghe, thấy trong xã hội, hoặc là những tiếng thì thầm ngay trong tâm hồn chúng ta. Những cám dỗ đó – những cám dỗ mà Đức Thánh Cha liệt kê trong Tông Huấn Niềm Vui của Tin Mừng – không xa lạ với chúng ta, ngay khi chúng ta không thực hiện việc mục vụ. Những cám dỗ đó, nếu để mình rơi vào, sẽ làm tê liệt chính đời sống. Và hậu quả là làm cho chúng ta mất hết sức sống và nhuệ khí để “là” một cách trung thực và “làm” một cách đúng đắn.

Làm sao để khỏi “sa chước cám dỗ”? Chúa Giêsu đã căn dặn phải “tỉnh thức”, vì tinh thần thì lanh lẹ, nhưng xác thịt thì yếu nhược! Và ơn thế nữa, hãy cầu nguyện “xin chớ để chúng con xa chước cám dỗ”. Nếu Thiên Chúa chẳng bị cám dỗ và cũng không cám dỗ ai, nhưng, trong thực tế, chính chúng ta lại để mình rơi vào cám dỗ, chưa nói đến việc chúng ta lại xô chạy vào cám dỗ! Như vậy, “tỉnh thức” và “cầu nguyện” luôn là hai phương thế hữu hiệu nhất giúp chúng ta không rơi vào cạm bẫy của cám dỗ.

Câu hỏi gợi ý :

1. (cho cá nhân để tự vấn lương tâm) : Tôi có rơi vào những cám dỗ mà Đức Thánh Cha đã liệt kê, và tôi đã làm gì để khắc phục?

2. (cho cộng đoàn để cùng thẩm định) : Đâu là sức khỏe tâm hồn của cộng đoàn chúng ta? Những thứ “bệnh”, “cám dỗ” mà Đức Thánh Cha liệt kê đang ảnh hưởng đến cuộc sống và bầu khí cộng đoàn như thế nào? Và chúng ta phải làm gì đây?