Gợi Ý Tĩnh Tâm

Tân Phúc Âm Hóa...

Truyền giáo, Tông đồ, Phúc âm hóa hay Tân Phúc âm hóa, tất cả cũng quy về việc TIẾP NHẬN Tin Mừng, SỐNG Tin Mừng và LOAN BÁO Tin Mừng.

 

ĐAN SĨ XITÔ THÁNH GIA

VÀ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HÓA

TRÊN QUÊ HƯƠNG  VIỆT NAM HÔM NAY 

 

LỜI MỞ

Các đề tài suy niệm Tĩnh tâm tháng cho năm nay đều xoay quanh vấn đề liên quan đến TIN MỪNG CHÚA GIÊSU. Cho dù dưới các đề mục khác nhau: Truyền giáo, Tông đồ,  Phúc âm hóa hay Tân Phúc âm hóa, tất cả cũng quy về việc TIẾP NHẬN Tin Mừng, SỐNG Tin Mừng và LOAN BÁO Tin Mừng.

Đó chính là sứ vụ Chúa Giêsu đã trao truyền: “Hãy đi rao giảng cho muôn dân” (Lc 24,47),  làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), “Loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16,15-16). Cuối cùng, Tin Mừng Gioan xác nhận : “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng: Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31). Như vậy, đã rõ  mục tiêu lệnh  truyền Loan báo Tin Mừng là khơi dậy lòng tin, nhờ đó mà được sự sống đời đời; lệnh truyền ấy bắt nguồn từ Thiên Chúa Cha, và  như Chúa Giêsu tỏ cho  biết:“mệnh lệnh của Chúa Cha là sự sống đời đời” (Ga 12, 50).

Đó là sứ vụ được trao cho Hội Thánh: “Loan báo Tin Mừng là nhiệm vụ của Hội Thánh” (Evangelii Gaudium, EG 111), trở thành trách nhiệm của mỗi tín hữu, vì “Ơn gọi ki tô hữu, tự bản chất là ơn gọi làm Tông đồ” (Tông đồ giáo dân số 2),” luôn là môn đệ truyền giáo”(.EG 120).

Bởi vậy, mỗi thành phần trong Giáo Hội đều cần nhận thức và chu toàn sứ vụ của mình. Đối với chúng ta, trong ơn gọi sống đời chiêm niệm, vấn đề cụ thể được đặt ra: “ĐAN SĨ XI TÔ THÁNH GIA, VÀ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HÓA TRÊN QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM HÔM NAY.

Vậy, cần xác định:

      - Hiện trạng Quê hương Việt nam như thế nào?

      - Tân Phúc Âm Hóa là gì?

      - Bấy giờ sẽ có thể thích hợp tham gia nhập cuộc.

 

I-Tình trạng Quê Hương Việt Nam hôm nay?

 Thiết tưởng cần có cái nhìn cụ thể về thực trạng của Xã hội và cả Giáo Hội tại Đất Nước Việt Nam hôm nay.

     *Hiện trạng Xã hội toàn cầu hóa.

ĐTC Phanxicô nhận xét về thực trạng con người ngày nay: Trong thời đại chúng ta, nhân loại đang sống ở một khúc quanh lịch sử, mà chúng ta có thể thấy từ những tiến bộ đạt được ở nhiều lãnh vực khác nhau.  Chúng ta phải ca ngợi những thành công góp phần vào sự thịnh vượng của con người, chẳng hạn như trong lãnh vực y tế, giáo dục và truyền thông.  Tuy nhiên, chúng ta không thể quên rằng hầu hết những người nam nữ ở thời đại chúng ta đang sống trong sự bất ổn định mỗi ngày, với những hậu quả tai hại. Một số bệnh học gia tăng.  Sợ hãi và tuyệt vọng chiếm đóng quả tim của nhiều người, ngay cả trong những nước gọi là giàu có.  Niềm vui của đời sống thường xuyên bị dập tắt, không có sự tôn trọng người khác và bạo lực gia tăng, chênh lệch về xã hội ngày càng trở nên rõ ràng”(EG 52).

Là ki tô hữu, chúng ta luôn sống trong tình liên đới với toàn thể nhân loại vì “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay…cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (GS 1). 

 

*Xã hội và con người Việt Nam hôm nay

Xã hội Việt Nam dĩ nhiên biến chuyển theo đà tiến toàn cầu. Qua dòng thời gian, trải qua các thể chế chính trị và ý thức hệ, xã hội Việt Nam còn mang rõ nét các dấu ấn, đặc biệt về kinh tế, do biến cố gia nhập Thị trường Toàn cầu hóa. Các tiến triển kéo theo một số kết quả, nhưng cũng mang đến các hậu quả tiêu cực cho xã hội hiện nay như chúng ta có thể nhận thấy.

ĐTC Phanxicô còn ghi nhận:  “Ở nhiều quốc gia, việc toàn cầu hóa đã dẫn đến sự suy thoái nhanh chóng của nền văn hóa gốc, với cuộc xâm lăng của những xu hướng đến từ những nền văn hóa khác, có sự phát triển về kinh tế nhưng yếu đi về đạo đức” (EG 62).

Riêng về con người Việt Nam, chúng ta thường được nghe một số người Nước ngoài nhận định : người Việtkhả năng thông minh có thể là vượt trội nhưng lại dễ sa vào tính khoe khoang, tự mãn ; do đó, giàu sáng kiến  nhưng lại yếu kém về khả năng cùng nhau cộng tác.

 

*Còn về Giáo Hội tại Việt Nam thì sao ?

Mặc dầu phần đông còn sống đạo theo mô hình “mục vụ duy trì thay vì truyền giáo”  (x. EG 15); tuy nhiên, Giáo Hội Việt Nam cũng chứng tỏ lòng nhiệt thành rao giảng Tin Mừng tại các Vùng sâu, vùng xa ; còn phải kể một số hoạt động truyền giáo tại  Nước ngoài.

Tuy nhiên, xét về nội bộ, Giáo Hội Việt Nam cần cảnh tỉnh: vì ghi nhận sự kiện ĐTC Benedictô 16 nêu lên: “Hiện tượng nhiều nước kitô giáo kỳ cựu đang chịu ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tục hóa, xa lìa đức tin kitô, trào lưu vô thần thực hành lan tràn cùng với sự dửng dưng đối với tôn giáo” , do đó, HĐGM Việt Nam cảnh báo: “ Từ kinh nghiệm của các nước đã có nhiều kitô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ thì trong tương lai không xa, Hội Thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào tình trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới.” (Thư Chung, ngày 10 tháng 10, 2013, số 5).

Ngoài ra, liên quan đến sứ vụ Tân Phúc âm hóa hiện nay tại Việt nam, ĐGM Giuse Đinh Đức Đạo còn nêu lên một số dữ kiện về Truyền giáo và Tân phúc âm hóa (Missio et Nova Evangelisatio) : “Trong môi trường xã hội Việt nam hiện nay, có rất nhiều nhu cầu truyền giáo, nhưng có lẽ cần để ý đặc biệt đến nhu cầu truyền giáo và Tân phúc âm hóa sau đây: 1-Dân chúng tại các thành thị; 2-Dân chúng sống trong các nhà cao ốc. 3-Hiện tượng di dân; 4- Giới trí thức và văn nghệ sĩ …vì “tư tưởng điều khiển hành động”.

Đó là hiện trạng  xã hội Việt Nam  hòa nhập toàn cầu đang mời gọi, chờ đợi chúng ta, là chi thể sống động của Thân mình Đức Kitô thực sự tham dự vào sự sống và sứ vụ của Hội Thánh, đặc biệt sứ vụ Loan báo Tin Mừng.

 

II-HIỂU THẾ NÀO VỀ TÂN PHÚC ÂM HÓA (TPÂH) ?

Xin mở ngoặc để ghi nhận : cụm từ TPÂH được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sử dụng lần đầu tiên năm 1979 vào dịp viếng thăm Balan. Và sau đó, trong bài diễn văn tại Hội Đồng các Giám mục châu Mỹ Latinh (CELAM), Ngài đã giải thích thêm: « mới » đây có nghĩa là  “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp và mới trong cách diễn tả” . Vậy, đây không phải là một Tin Mừng mới, vì chỉ có một Tin Mừng duy nhất Tin Mừng vĩnh cửu của Chúa Kitô” (Kh 14,6).

Chính vì vậy, liên quan đến sứ vụ Loan Tin Mừng, Đề cương của Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới lần thứ XIII tại Roma từ ngày 7-28 tháng 10 nằm 2012 nhận định : « Khi nói đến Tin Mừng, chúng ta không được chỉ nghĩ về nó như là một cuốn sách…cũng không chỉ là một hệ thống các điều khoản đức tin và giới răn đạo đức… mà là một con người, Đức Giêsu Kitô, Lời của Thiên Chúa đã làm người. Tin Mừng là Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô…Vì thế, mục tiêu của việc Truyền bá Tin Mừng là thể hiện một cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, trong Thánh Thần, nhờ đó dẫn đưa chúng ta tới một trải nghiệm về Cha của Người và là Cha của chúng ta ” (Đề cương số 11).

 Cuộc gặp gỡ cá vị  quan trọng nầy cũng được ĐTC Phanxicô nói đến để mở đầu TH Niềm vui của Tin Mừng :“Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và toàn thể đời sống của những người gặp gỡ Chúa Giêsu.  Những người để cho mình được Người cứu độ được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn rầu, trống rỗng nội tâm và cô lập” (EG 1). Và kế tiếp, Đức Thánh Cha  tha thiết ngỏ lời: Tôi mời mọi kitô hữu, ở bất cứ nơi nào và hoàn cảnh nào, ngay lúc này đổi mới cuộc gặp gỡ cá nhân của mình với Chúa Giêsu Kitô, hay ít ra, quyết định để cho Người gặp gỡ mình và không ngừng tìm kiếm Người mỗi ngày.  Không có một lý do nào mà một người có thể nghĩ rằng lời mời gọi này không dành cho mình, bởi vì không ai bị chối từ niềm vui mà Chúa mang đến” (EG 3).

Chính cuộc gặp gỡ tình yêu nầy là năng động để loan báo Tin Mừng, vì: “Lý do đầu tiên thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng là tình yêu của Chúa Giêsu mà chúng ta đã nhận được,… Nếu chúng ta không cảm thấy có ước muốn mãnh liệt để truyền thông tình yêu này, chúng ta cần phải tạm ngừng lại trong cầu nguyện để cầu xin Người trở lại làm cho chúng ta say đắm” (EG 264).

Tình yêu thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô (x. Rm 8,39) người tín hữu tiếp nhận qua Tin Mừng diễn tả trong “LỜI CÔNG BỐ BAN ĐẦU” với từ Hy lạp KERYGMA (x. 1Cr 15,3-8; Cv 4,8-12). Sở dĩ Kerygma luôn nêu lên Hiến tế Thập giá và Phục sinh của Chúa Giêsu, vì đó là cao điểm và là bảo chứng của toàn bộ kế hoạch Tình yêu Cứu độ (x. 1Cr 15.12-14). Quả thật, nội dung kerygma diễn tả thực chất của Niềm Tin ki tô giáo (x. Rm 6, 8), của hồn Chiêm Niệm (x. Dt 12,2), trong Cuộc Sống thường ngày của người tín hữu (x. 2 Cr 4,10), trong Cử hành Lễ Tạ Ơn (x. 1 Cr 10,16-17), trong cả Sự Sống và Sứ vụ của Hội Thánh (x. Lc 22,19-20; Cv 2,42).Vì vậy,  Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II xác nhận: “Giáo Hội không bao giờ thôi sống lại cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá và sự Phục sinh của Người: đó là nội dung  sự sống hằng ngày của Giáo Hội” (Đấng Cứu chuộc loài người n. 7).

Vì thế, ĐTC Phanxicô trong TH Niềm vui của Tin Mừng đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của Kerygma trong đời sống ki tô giáo cũng như trong sứ vụ Truyền giáo: “Lời công bố ban đầu hay “kerygma” là điều phải ở trung tâm của việc Phúc Âm hóa và mọi ý định canh tân Hội Thánh.  Kerygma có đặc tính Ba  Ngôi.  Nó là ngọn lửa của Chúa Thánh Thần được ban trong hình thức các ngôn ngữ và làm cho chúng ta tin vào Đức Chúa Giêsu Kitô, Đấng qua Cái Chết và Sống Lại của Người mặc khải cho chúng ta lòng thương xót vô cùng của Chúa Cha “ (EG 164). (Về KERYGMA xem thêm EG 11;36;77;95;110;164).

Được chịu Phép Rửa nhân danh Ba Ngôi, sứ vụ truyền giáo của ki tô hữu được khởi nguyên từ đó.  Quả thật, Nhờ bí tích Rửa Tội mà họ đã lãnh nhận, mỗi phần tử của Dân Thiên Chúa trở thành một môn đệ truyền giáo” (x.Mt 28,19). Mọi người đã được rửa tội, bất kể chức năng của họ trong Hội Thánh và trình độ giáo dục đức tin của họ, đều là một chủ thể tích cực của  việc rao giảng Tin Mừng… Việc Tân Phúc Âm hóa liên quan đến vai trò tiên phong mới của từng người đã được rửa tội.  Xác tín này được biến đổi thành một lời kêu gọi trực tiếp dành cho mọi kitô hữu, bởi vì không ai được phép chối bỏ cam kết rao giảng Tin Mừng, vì chưng nếu đã thực sự cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa là Đấng cứu độ, thì người ta không cần nhiều thì giờ chuẩn bị để đi rao giảng, người ta không thể chờ đợi để học được nhiều bài giảng dạy, hoặc những hướng dẫn dài dòng.  Mỗi kitô hữu là một nhà truyền giáo theo mức  độ mà người ấy đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Chúa Giêsu Kitô; chúng ta không còn nói rằng chúng ta là “môn đệ”  và  “nhà truyền giáo”,  nhưng chúng ta luôn luôn là  “môn đệ - truyền giáo” (EG 120).

 

Chúng ta hãy dừng lại xem cuộc đời truyền giáo của Thánh Phaolô như một mô hình tiêu biểu. Khởi đầu với cuộc Gặp Gỡ Đức Kitô trên đường Đamat (x. Cv 9,1-19); từ đó, với niềm tin vào Tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại vì mình, Phaolô cảm nhận động lực thúc bách để sống cho Ngài (x. Gl 2,20); 2Cr 5,14-15), được thuộc về Ngài (x. Rm 14,7-8), và do đó Phaolô đã trở thành “lợi khí Chúa chọn để mang danh Người đến trước mặt các dân ngoại”(Cv 9,15). Bởi vậy, Phaolô đã dấn thân trọn vẹn cho sứ vụ để có thể tuyên bố: ”Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng (1 Cr 9,16). Do thúc bách của tình yêu Đức Kitô, Phaolô quả quyết được  với Giáo đoàn Thessalonica:” sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa” (1 Ts 2,8).

Tuy nhiên, một điều cũng  đáng ghi nhận: mặc dù Thánh Phaolô quy về Chúa Kitô Đấng chịu đóng đinh và Phục sinh (x. 2 Cr 5,14-15; Gl 2,20), nhưng vẫn hướng tất cả về Thiên Chúa Ba Ngôi, như nguồn cội và đích điểm của công trình cứu độ. Thật vậy, hồng phúc là ki tô hữu khởi đầu với ơn nghĩa tử (x.Gl 4,4-6).;  trải qua  toàn bộ cuộc sống (x. Ep. 2,18); tất cả xuất phát từ Tình yêu của  Ba Ngôi Thiên Chúa (x.2 Cr 13,13).

Như vậy,  rao giảng Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ dẫn vào hiệp thông với  Thiên Chúa Ba Ngôi, đúng như lệnh truyền của Chúa Giêsu là loan báo Tin Mừng cho muôn dân và làm Phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (x. Mt 28,19).

 

III- THAM DỰ TÂN PHÚC ÂM HÓA TẠI QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM

Qua những gì được trình bày trên đây, cần phân biệt: các Đan sĩ Xi tô Thánh gia tham gia sứ vụ Tân Phúc Âm Hóa theo các giai tầng khác nhau :

*  -với tư cách là ki tô hữu, do ân sủng bí tích Rửa tội ;

*  -với tư cách là đan sĩ, do đặc sủng của ơn gọi đan tu ;

-đan sĩ Xi tô Thánh gia sống theo tinh thần của Cha Tổ Phụ Sáng lập Hội Dòng.

Đó là những đòi hỏi thiết yếu nơi các đan sĩ Xi tô Thánh gia trong  sứ vụ  Sống Tin Mừng và Loan Tin Mừng.

 

1)-VỚI TƯ CÁCH LÀ KI TÔ HỮU QUA BÍ TÍCH RỬA TỘI

Trước hết, chúng ta cũng nên ghi nhận lời cảnh giác của ĐTC Phanxicô  về việc thi hành sứ vụ Truyền giáo hoặc Tân Phúc âm hóa: “Mặc dù sứ vụ này đòi hỏi chúng ta phải tham gia rất rộng lượng, nhưng thật là sai lầm khi coi nó như một nhiệm vụ anh hùng cá nhân, vì công việc chủ yếu của chính Người, vượt xa những gì chúng ta có thể nhìn thấy và hiểu được… Trong tất cả mọi hình thức Phúc Âm hóa, quyền tối thượng luôn luôn thuộc về Thiên Chúa, là Đấng đã mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài và tác động chúng ta bằng quyền năng của Chúa Thánh Thần” (EG 12).

Cần ghi nhận, nền tảng đầu tiên của sứ vụ Loan Tin Mừng dành cho đời thánh hiến đan tu là do ân sủng ki tô hữu nhờ bí tích Rửa tội, như Công đồng Vaticanô II đã xác nhận:“Thực vậy, họ (các người sống đời thánh hiến) đã cung hiến toàn thể cuộc đời để phụng sự Thiên Chúa và sự cung hiến ấy đã thực sự tạo nên một sự thánh hiến ăn rễ sâu trong sự thánh hiến của ngày chịu phép Rửa tội, đồng thời biểu lộ sự thánh hiến  nầy cách trọn hảo hơn  (Đức Ái Hoàn Hảo  5).

Như vậy, đời sống đan tu cùng chung một nền tảng với đời sống ki tô, vì thế, thật là chí lý Thánh Tổ Biển Đức đã vạch ra cho các đan sĩ một linh đạo rõ nét “Quy Ki tô”. Chính đó là điều tất yếu để tham dự vào công trình Phúc âm hóa. Rảo qua Tu luật của Thánh Biển Đức chúng ta nhận thấy đời  đan tu được trình bày như sống một Mối Tình với Đức Kitô, dựa theo hướng dẫn của Tin Mừng (per ducatum Evangelii. TL Lời mở, 52). Bởi đó, chúng ta đọc trong chương 4: “Không lấy gì làm hơn mối tình Chúa Kitô” (TL 4,24 ) và đặc biệt xác định ở cuối Tu luậtTuyệt đối không lấy gì làm hơn Chúa Kitô” (TL 72,13).

Mối tình Chúa Kitô được Thánh Phụ Biển Đức trình bày xuyên suốt toàn bộ cuộc sống  người đan sĩ, trong liên kết với Thiên Chúa cũng như  tương quan với tha nhân. Đan sĩ từ bỏ chính mình là để theo Chúa Kitô (x. TL 4,11), chiến đấu duới cờ Vua Kitô (x, TL  Lời mở, 8). Đan sĩ sống vâng phục là vì lòng mến Chúa Kitô (x.TL 5,3; 7,198 ); trong niềm tin yêu, đan sĩ nhận ra Chúa Kitô hiện diện trong Viện phụ (x. TL 2,3; 63,29 ), nơi người nghèo (x. TL 53,30 ), nơi người khách (x. TL 53,2), nơi người đau ốm (x. TL 36,2 ). Cả trong cuộc chiến tâm linh (x.TL Lời mở, 72; TL 4,58) tất cả nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô, đặc biệt động lực được nêu rõ “vì lòng mến Đức Kitô” ( amore Christi (x.,TL 5,3; 7,198; 63,29). Nhờ tình yêu gắn bó với Đức Kitô, đan sĩ có được cảm thức ” tất cả chúng ta trở nên một trong Đức Kitô” (TL 2,54).

 Đây là hiệu quả của Hiệp thông Nên Một trong Đức Kitô dẫn chúng ta vào Hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi (x. Ga 17,26; 14,16). Chính vì vậy, linh đạo Biển Đức cũng mang rõ nét tính chất Ba Ngôi.  Xin được nêu lên vài chi tiết: trong cử hành Thần vụ mà Thánh Biển Đức chú trọng đặc biệt (x. TL 43,5 ), được chỉ rõ những lúc phải nguyện kinh Vinh Danh (x.TL 9,2. 6; 11,3), cách riêng trường hợp ghi rõ tư thế “đứng lên cúi bái” , với mục đích “để thờ kính Chúa Ba Ngôi” (x. TL9,7). Hơn nữa, trong nghi thức Tuyên khấn, sau ba lần khấn cầu  “ xin Chúa tiếp nhận con” , cả cộng đồng cùng với khấn sinh nguyện kinh Vinh danh kính  Ba Ngôi (x. TL 58,21-22). như vẫn giữ trong nghi thức hiện nay. Tất cả nói lên hồng ân cao cả được thánh hiến trọn đời cho Thiên Chúa Ba Ngôi,“nhờ Ân sủng Đức Giêsu Kitô, Tình yêu của Thiên Chúa Cha và ơn Thông hiệp của Chúa Thánh Thần” ( 2 Cr 13,13). Như vậy, chứng tỏ mối tình với Đức Kitô luôn dẫn đến hiệp thông với Ba Ngôi trong nhiệm cục  cứu độ.

 

2)-VỚI NẾP SỐNG ĐAN TU THEO ĐẶC SỦNG CỦA ƠN GỌI

Trước hết, thiết tưởng cũng nên nêu lên sự kiện Giáo Hội tha thiết mong muốn lập các cộng đoàn đan tu chiêm niệm: vì đời sống chiêm niệm thuộc về sự hiện diện trọn vẹn của Giáo Hội, nên phải được thiết lập khắp nơi trong các Giáo Hội trẻ trung” ( Truyền giáo 18).

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II còn tha thiết hơn nữa: ”Tiếp theo Công đồng (x.Truyền giáo 18; 40), Cha kêu mời các Dòng chiêm niệm lập các cộng đoàn tại các Giáo Hội trẻ. Như thế ở giữa những người ngoài ki tô giáo, họ sẽ là một chứng tá tuyệt diệu cho tình thương và quyền linh của Thiên Chúa và sự kết hiệp với Đức Kitô… Khi tiếp xúc với các đại diện của những truyền thống tâm linh ngoài ki tô giáo, nhất là tại vùng Á châu, cha tin rằng tương lai của việc truyền giáo tùy thuộc một phần lớn ở  sự chiêm niệm” (Sứ mệnh Chúa Cứu Thế 69. 91).

Như vậy thì quả thật,  Chúa đã dùng Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận thiết lập Hội dòng nam đan tu chiêm niệm đầu tiên tại Việt Nam, đúng theo nhu cầu ước vọng tha thiết của Giáo Hội. Sự kiện nầy phải trở thành động lực cho các đan sĩ Xi tô Thánh gia sống trung thực ơn gọi đời thánh hiến chiêm niệm, để cụ thể tham dự vào công cuộc Tân Phúc Âm Hóa tại Quê Hương Việt Nam hôm nay.

Như chúng ta thấy, ơn gọi đan tu dựa trên nền tảng  ân sủng Bí tích Rửa tội của đời sống ki tô hữu. Tuy nhiên, đi vào đời sống thực tế, Công đồng Vaticanô II đã trình bày nếp sống đời tu chiêm niệm theo truyền thống đan tu lâu đời trong Giáo Hội.

“Trong những Hội dòng hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm, các tu sĩ chỉ nhất tâm phụng sự một mình Thiên Chúa trong cô tịch và lặng lẽ, trong việc chuyên lo cầu nguyện và hoan hỷ hy sinh, cho dù nhu cầu hoạt động tông đồ có khẩn thiết đi nữa, thì những Hội dỏng ấy vẫn phải luôn giữ địa vị cao quý trong Huyền thể Chúa Kitô, trong đó “mỗi chi thể đều có một tác động khác nhau”  (Đức Ái Hoàn hảo 7).

 

*Hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm, một nét đặc thù của đời sống đan tu. Cụm từ hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm” nơi đây mang rõ chiều kích Hội Thánh, liên hệ đến sức sống và sứ vụ của Hội Thánh. Vì thế, ĐTC Phanxicô viết về sứ vụ Loan Tin Mừng, đã nói đến cần phải “phục hồi tinh thần chiêm niệm” (EG 264); và vì chiêm niệm gắn liền với cầu nguyện nên Ngài đã mạnh mẽ xác quyết:” nếu không có cầu nguyện thì mọi hoạt động có nguy cơ trở thành trống rỗng” (EG 259).Hội Thánh không thể làm được gì nếu không có lá phổi cầu nguyện” (EG 262).

 Cha Tổ Phụ sáng lập Hội dòng cũng cho chúng ta những giáo huấn quan trọng về cầu nguyện: “Thầy dòng phải là con người cầu nguyện; Nhà Dòng phải là nhà cầu nguyện, nếu không, sẽ trở thành nhà nông phu” (Di Ngôn 118). Và thật chính xác, Ngài định nghĩa “Cầu nguyện là GẶP GỠ Chúa cách THÂN TÌNH” (x. Di ngôn  ibid. ), cả hai yếu tố “Gặp Gỡ, Thân Tình” cần thiết để bảo đảm tính trung thực và giá trị của việc cầu nguyện. Tuy nhiên, chiều kích đích thực của cầu nguyện luôn bao hàm hiệp thông với Hội Thánh và được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và các Bí tích, đặc biệt nhiệm tích Thánh Thể, cũng như bao gồm toàn bộ cuộc đời dâng hiến.

Vì thế, văn kiện Công đồng cho biết cầu nguyện còn đòi hỏi gì khác nữa trong cuộc sống,

*Hoan hỷ hy sinh. Đã hay rằng truyền thống đan tu Biển Đức Xi tô đã tóm gọn hai yếu tố trong phương châm: ORA ET LABORA (Cầu Nguyện và Lao Động). Tuy nhiên, “Lao động” đây không chỉ hiểu về lao tác, nhưng bao gồm mọi việc hy sinh trong nếp sống đan tu thể hiện với niềm hoan lạc của Chúa Thánh Thần (x. TL 49,15). Hoan hỷ Hy sinh khởi đầu với việc từ bỏ mình để theo Chúa Kitô (x. TL 4,11), điều được kéo dài suốt cả cuộc đời. Chính vì thế, ĐTC Phanxicô năng nói đến nhu cầu “xuất hành ra khỏi bản thân” để gặp gỡ Chúa, gặp gỡ anh  em, để nhận  biết Chúa hiện diện nơi tha nhân, và để loan Tin Mừng (x.EG 8; 87; 179; 261).

Đi vào thực tế, ĐTC Phanxicô trong mụcTrả lời không với tinh thần thế tục”, đã cảnh giác về một nguy cơ rất tai hại: “ Tinh thần thế tục, là tinh thần nấp đằng sau những vẻ đạo đức bề ngoài…để tìm vinh quang và phúc lợi cho con người thay vì vinh quang của Chúa.  Đây là điều Chúa khiển trách người Pharisêu… nó liên quan đến việc tìm kiếm vẻ bề ngoài, nên không luôn luôn đi kèm với các tội công khai, và nhìn bề ngoài mọi sự đều có vẻ như thường…” (EG 93). Kế tiếp còn được nêu lên trường hợp: “ Nơi một số người, chúng ta nhận thấy có một sự chăm sóc phô trương về phụng vụ, tín lý và uy tín của Hội Thánh…” (EG 95). Vậy, Hoan hỷ hy sinh có khả nănglội ngược dòng…để loan báo Tin Mừng, không chỉ bằng lời nói, nhưng, trên hết, bằng một cuộc sống được sự hiện diện của Thiên Chúa biến đổi”( EG 259).

 

3)-SỐNG THEO TINH THẦN CHA TỔ PHỤ SÁNG LẬP HỘI DÒNG

Đây cũng là nhu cầu quan trọng của các đan sĩ Xi tô Thánh gia, là điều Giáo Hội hằng nhắc nhở chúng ta, cả trong Giáo luật “Tất cả mọi người phải trung thành duy trì chủ tâm và ý định của các Vị Sáng lập đã được nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội phê chuẩn về bản chất, mục đích, tinh thần và đặc tính của mỗi Hội dòng, cũng như  về những truyền thống lành mạnh và tất cả những gì cấu tạo nên gia sản của Hội dòng” (GL 578).

Có thể nói: tất cả nếp sống nầy đã được cụ thể quy định trong Hiến pháp và Thói lệ của Hội Dòng (x. Chú giải Di Ngôn 88, 1).  Một cách tổng hợp, Cha Tổ Phụ nhắc bảo nhấn mạnh trong Lời Trối: “Muốn nên thánh, hãy giữ Luật Dòng!” Thế nhưng, đan sĩ tuân giữ không vì “nệ luật”, nhưng vì mến  Chúa, vì phục vụ bác ái yêu thương, như Cha Tổ Phụ từng nhắc bảo (x. Di Ngôn 137-138).

 Sau đây,liên quan đến tinh thần và các “chủ tâm ý định” của Cha Tổ Phụ, chúng ta dừng lại ở hai điểm chính:

a)Mục Tiêu kèm theo: Tham gia việc cứu  những người chưa nhận biết Chúa;

 Cha Tổ Phụ chúng ta, ngay từ đầu, đã nêu rõ trong bản Hiến pháp Ngài soạn thảo : “Làm thành một Tu hội các đan sĩ chuyên lo việc cứu giúp các người chưa nhận biết Chúa, bằng sự cầu nguyện và hãm mình” (Di Ngôn số 79)

Mục tiêu nầy cũng được nêu rõ trong công thức Tuyên khấn của các tu sĩ:

“Con là…Để đáp lại tình yêu của Chúa, Đấng đã đoái thương gọi con, và để tham gia vào việc cứu rỗi những người chưa nhận biết Chúa, con tuyên khấn…”

Quả thật là long trọng cam kết đáp lại Mối tình với Chúa, đồng thời chu tất món nợ tình thương đối với tha nhân (x. Rm 13,8) (Xem thêm Di Ngôn 78).

 

b)Ý nghĩa Danh Hiệu:Hội Dòng Xi tô Thánh gia

Danh hiệu nầy được chọn cho Hội Dòng cũng có ý nghĩa đặc biệt: hướng về Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha Thánh Giuse, để đón nhận sự phù trợ và để noi gương cuộc sống âm thầm của Thánh Gia tại Nazaret. (x. Chú giải Di Ngôn 74, 3).

Hơn nữa, cũng từ đó chúng ta được khích lệ thể hiện tình gia đình trong cộng đoàn theo Tin Mừng, dựa vào văn hóa Việt nam (x. Chú giải Di Ngôn 63,2) .

Chính vì đó, Cha Tổ Phụ đã không chấp nhận sự tách biệt cụ thể trong Dòng Xi tô thời đó giữa  hai bậc ca sĩ và quy sĩ (không được cùng chung một ca tòa vv…; điều nầy sẽ được Công đồng Vaticanô II bãi bỏ) ; tất cả nhằm duy trì tinh thần gia đình trong  nếp sống hòa đồng của cộng đoàn ,“ là một gia đình thật được Chúa quy tụ” (x.Đức Ái Hoàn Hảo 15).

Chung quy lại, nhờ sức mạnh Tình yêu của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Khổ nạn và đã Phục sinh, đan sĩ Xi tô Thánh gia chúng ta cố gắng trung thành sống bản chất ki tô hữu, trong đặc sủng ơn gọi đan tu chiêm niệm, đồng thời thể hiện tinh thần Đấng sáng lập Hội dòng, luôn trong Hiệp thông với Hội Thánh, nhờ vậy, được diễm phúc tham dự vào công cuộc Tân Phúc Âm Hóa xã hội thế giới hôm nay.

 

THAY LỜI KẾT

Trong ánh sáng của Lời Chúa, và hướng dẫn của Huấn quyền, đan sĩ chúng ta có thể nhận thức rõ hơn về ân huệ và  sứ vụ chúng ta tiếp nhận trong công cuộc Tân Phúc âm hóa  tại Quê hương Việt Nam:

*Trước hết và trên hết là sống mối tình kết hợp với Chúa Giêsu Kitô: tôn Ngài làm Chúa Tể đời mình, bởi vì “không thể có việc truyền giáo thật sự nếu không có việc công bố rõ ràng rằng Chúa Giêsu là Chúa” (EG 110).  Nên thường xuyên chân thành tự hỏi: Đức Kitô có thực sự là trung tâm của tâm hồn và cuộc sống chúng ta, hay là cái Tôi ích kỷ đang nắm quyền điều khiển?

*Thật vậy, ĐTC Phanxicô không thể nhấn mạnh hơn khi quả quyết: “Việc truyền giáo là một sự say mê với Chúa Giêsu, nhưng đồng thời cũng là một sự say mê với Dân Người” (EG 268).

Nhờ đó, chúng ta có được trái tim truyền giáo” (EG 45),  để có thể cùng với Cha Tổ Phụ tiếp nhận được lời Chúa Giêsu tha thiết kêu gọi: “Chúng con hãy cứu các linh hồn cho Ta!- Lẽ nào chúng ta làm ngơ” ( Di Ngôn 121). Đó là ý nghĩa lời Chúa Giêsu kêu khát “SITIO” trên Thập giá (x. Ga 19,28).

*Còn Thánh Phụ Biển Đức, Ngài cũng không thể xác quyết gì mạnh hơn điều đã viết khi kết thúc Tu Luật: “Tuyệt đối không lấy gì làm hơn Chúa Kitô”.(TL 72, 13).Từ đó, nhận ra Ngài hiện diện nơi anh  em, và với tình thương mến, chúng ta được in dấu đặc thù của người môn đệ (x. Ga 13,35). Chúng ta sẽ đích thực  là chứng tá của Tin Mừng Tình Yêu Cứu độ (x. Cv 1,8). Nhưng phải sống sao để thực sự làm chứng chứ không phải phản chứng.

*Về vấn nạn quan trọng nầy, ĐTC Phanxicô sau khi nêu lên sức hấp dẫn của chứng từ bác ái yêu thương, đã thành thật chia sẻ tâm tư của Ngài:“Vì vậy, tôi cảm thấy rất đau lòng khi khám phá ra rằng làm sao trong một số cộng đồng Kitô hữu và thậm chí giữa những người được thánh hiến, còn có chỗ cho các hình thức khác nhau của hận thù, chia rẽ, vu khống, nói xấu, trả thù, ghen ghét, mong muốn áp đặt ý tưởng của mình với bất cứ giá nào, để đàn áp tương tự như một cuộc tróc nã phù thủy không thương xót.  Chúng ta sẽ rao giảng Tin Mừng cho ai với những hành vi như thế?” (EG 100).

Vì thế, trong TH Niềm vui của Tin Mừng, ĐTC Phanxicô cảnh tỉnh chúng ta: “Đừng để cho mình bị cướp mất cộng đoàn” (EG 92); “Đừng để cho mình bị cướp mất lý tưởng huynh đệ” (EG 101). Ngài còn có dịp trình bày thật sâu sắc về Tình huynh đệ huyền nhiệm và chiêm niệm”(x. EG 92).

*Chính Chúa Giêsu bảo đảm cho chúng ta, bởi vì Ngài đã trao cho chúng ta mối tình tuyệt vời: Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” (Ga 15,9) “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34; 15,12), thì  Ngài cũng trao cho chúng ta bí quyết để thể hiện mối tình “Hiệp thông hai chiều” ấy, với lời mời gọi:Hãy ở lại trong ThầyHãy ở lại trong Tình thương của Thầy” (Ga 15,4.9).

*Sau cùng, xuyên qua Hội Thánh mà Hồng ân Hiệp thông NÊN MỘT với Chúa Kitô biến chúng ta thành chi thể sống động, thông dự vào sự sống của THÂN MÌNH CHÚA KITÔ là Hội Thánh (x. Rm 12,4; 1 Cr 12,12;1 Cr 10,17), và cùng được thông dự nơi Hội Thánh HIỀN THÊ  Mối Tình Hôn Ước thánh thiêng với Chúa Kitô,  trong Ba Ngôi Thiên Chúa (x.Ep 5,32; Ga 17,26; 2 Cr 13,13).

Vậy, Tình yêu Hiệp thông trong Chúa Giêsu Kitô, chung cho mọi ki tô hữu, đặc biệt đối với đan sĩ chúng ta,  là điều thiết yếu cốt lõi để sống Tin Mứng và Loan báo Tin Mừng trong sứ vụ Tân Phúc Âm Hóa của Hội Thánh.

Thánh Mẫu Maria là Mẹ Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, là Mẹ Giáo Hội, là Mẹ của mỗi chúng ta, vì thế,  Mẹ quả thật “Mẹ của Phúc Âm Hóa”,“Ngôi Sao của Tân Phúc Âm Hóa” (EG 287). Nguyện xin Mẹ thông ban cho chúng ta ơn phúc sống kết hợp với Chúa Giêsu Kitô trong kế hoạch Tình yêu cứu độ, nhờ luôn sống gắn bó với Mẹ như Hiền Mẫu và  Gương Mẫu trọn hảo của chúng ta.

Ngày 28-09-2014, ĐTC Phanxicô đã đề ra Ý chỉ cầu nguyện cho tháng 10 nầy: “Xin cho Ngày Quốc tế Truyền giáo đánh thức nơi mỗi kitô hữu sự đam mê và nhiệt huyết cần thiết để đem Tin Mừng cho toàn thế giới”.

Cùng với Giáo Hội, chúng ta sống Tháng Mười  là Tháng Mân côi, là Tháng Truyền giáo, cũng là tháng khởi đầu (1-10) với lễ kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, được Giáo Hội tuyên dương là “Quan Thầy các xứ Truyền giáo”. Biết bao nhiêu điều đáng ghi nhận để suy niệm, cầu nguyện và đưa vào cuộc sống.

M. Duy ân