THÁNH KINH

THÁNH KINH NHẬP MÔN quyển một, p.I - Giới Thiệu và Các Khái Niệm Thánh Kinh (Hiền Lâm)

Thánh Kinh như là một lưu bút và là một bức thư tình để lại cho tín hữu và là thông điệp yêu thương của Chúa vẫn mãi mãi ở cùng nhân loại giúp họ được sống và sống phong phú trong tình yêu của Thiên Chúa.

  Tổng hợp và biên soạn từ nhiều tư liệu: Hiền Lâm

 

Cuốn 1 : PHẦN TỔNG QUÁT

 

Dẫn nhập

 “Thánh Kinh là bức thư tình mà Thiên Chúa gửi cho chúng ta là bạn hữu của Người” (Augustino, Enarr in Ps 90). Thật vậy, giống như đôi bạn tình lúc sống xa nhau, họ trao gửi cho nhau những bức tâm thư và nhờ đó mà lời nói yêu thương và hình ảnh của họ luôn hiện diện bên nhau, để nuôi dưỡng tình yêu họ mãi mãi cho nhau. Cũng thế, khi Chúa Giêsu “về trời”, Thánh Kinh như là một lưu bút và là một bức thư tình để lại cho tín hữu và là thông điệp yêu thương của Người vẫn mãi mãi ở cùng nhân loại giúp họ được sống và sống phong phú trong tình yêu của Thiên Chúa. Nói đến thư tình là nói đến những dòng chữ chất chứa tình thương, hơn là những gì thuộc văn hay chữ tốt. Chẳng có anh chàng hay cô gái nào nhận được thư của người yêu mà lại đặt vấn đề về văn phạm sai câu lỗi vần, nhưng chỉ tập chú khám phá trên mỗi dòng chữ một hình ảnh thân thương, một rung động của con tim và những cảm nghĩ về tình yêu và ước vọng tương lai. Cũng vậy, tinh thần học hỏi và sống Thánh Kinh không nhằm nghiên cứu văn hay chữ tốt, mà là một sự khám phá và cảm nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho con người trong chương trình cứu độ.

Theo Hiến Chế Mặc Khải của công đồng Vaticano II, Thánh Kinh là Lời Chúa nói với loài người để mặc khải cho họ về chính Thiên Chúa, về tình thương, sự an bài săn sóc, ý định và chương trình cứu độ của Người, nhờ đó con người có thể tiếp cận được với Thiên Chúa và thông phần bản tính của Người. Thánh Kinh hay Lời Chúa không chỉ là một bản văn chất chứa tình cảm của Chúa mà còn là chính Chúa (Dei Verbum 25). Có thể nói, tình yêu của con người đối với Thiên Chúa tỉ lệ với độ mến yêu của con người đối với Thánh Kinh. Sở dĩ công đồng Vaticano II dám đồng hoá Lời Chúa với chính Chúa, vì Lời ở đây không phải là một âm thanh vẳng trong không khí, nhưng trước hết là Ngôi Lời

Công đồng Vaticano II, mong muốn mọi kitô hữu hãy siêng năng học hỏi Thánh Kinh để đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa và để tâm hồn được bối dưỡng nơi bàn tiệc Lời Chúa:

“Mọi kitô hữu, cách riêng các tu sĩ hãy siêng năng đọc Thánh Kinh để học biết khoa học về Thiên Chúa (x. Pl 3,8). Vì không biết Thánh Kinh là không biết Thiên Chúa (S. Hyeronimo). Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh nhờ Phụng Vụ Thánh chứa đựng dồi dào, hoặc nhờ sốt sắng đọc Kinh Thánh, hay những tổ chức học hỏi thích hợp…” (DV, 25).

 

Tại sao phải học Thánh Kinh?

Có thể nói môn học Thánh Kinh là môn học quan trọng nhất trong các môn thần học, vì Thánh Kinh là kim chỉ nam cho tất cả mọi suy luận thần học. Hơn nữa, việc hiểu biết Thánh Kinh sẽ hướng dẫn cho đời sống mọi kitô hữu.

Vì thế, việc học hỏi Thánh Kinh là rất cần thiết, không chỉ để biết mà còn là để sống, “vô tri thì bất mộ” – không biết Chúa thì không thể yêu mến Chúa và không biết đường lối Chúa và Thánh Ý của Người thì không thể sống đức ái với tha nhân cách trọn vẹn[1]

 

Chương I

CÁC KHÁI NIỆM

 

A. Khái niệm về mặc khải (mạc khải).

1. Định nghĩa.

Chữ Mặc Khải hay Mạc Khải mà người Việt Nam đang dùng là một từ Hán Việt (mạc là màn, mặc là tối, khải là mở), nghĩa là Thiên Chúa vén bức màn hoặc cất đi sự u mê của con người để họ biết về Người, được dịch từ chữ REVELATIO, tiếng Latinh, chữ Revelatio bao gồm: Re (cất lên), velum (khăn voan, cái lúp), tức là cất khăn che để thấy rõ một vật gì.

Do đó:

“Mặc khải là hành động mà Thiên Chúa tỏ mình ra và chương trình cứu rỗi của Người cho nhân loại” (DV, 6).

Ví dụ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3, 15). Đây là mặc khải đầu tiên Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Độ[2].

2. Mặc khải và Kitô Giáo.

Người có tín ngưỡng đi tìm cho mình một sự liên lạc với các thần linh mà họ tôn thờ và khao khát có một sự đối thoại. Vì thế, không lạ gì nhiều tôn giáo cổ xưa đã đặt ra nhiều phương cách để như “ép buộc” thần linh tự mặc khải cho họ qua chiêm mộng, bói toán, lắc quẻ, đồng cốt, cầu cơ… Những phương cách đó là do sáng kiến của con người hơn là do thần linh. Thiên Chúa của Cựu Ước và Tân Ước là một Thiên Chúa mặc khải, Người tỏ mình qua công trình sáng tạo, qua lịch sử cứu độ, qua sự đàm đạo và tác động trên các tổ phụ và các ngôn sứ, đặc biệt qua Đức Giêsu Kitô.

Như thế, Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng mặc khải của Thiên Chúa, nghĩa là trên niềm tin vào những gì Thiên Chúa nói với loài người (qua các kỳ công trong vũ trụ), qua các sứ giả của Người, nhất là qua Đức Giêsu Kitô. Nhờ đó chúng ta sẵn sàng đón nhận và chấp nhận những chân lý mầu nhiệm vượt qua khả năng tri thức và lý luận của người phàm.

 

3. Cách thức mặc khải.

Thiên Chúa tỏ mình và tỏ ý định của Người bằng muôn phương ngàn cách. Chính thánh Phaolô đã viết: Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người?” (Rm 11, 33-34).

Nhân loại dùng ngôn ngữ mà truyền đạt tư tưởng, ý muốn và tâm tình của mình. Cũng thế, khi chấp nhận đối thoại, Thiên Chúa đã sử dụng chính ngôn ngữ của nhân loại để mặc khải. Thánh Kinh dùng chữ Dabar và Logos để chỉ Lời mặc khải. Nội dung hai từ này bao gồm việc Thiên Chúa thực hiện mặc khải không những qua lời nói mà còn qua những hành động cụ thể. Hai hình thức này bổ túc cho nhau, nghĩa là lời nói của Chúa giải thích và làm sáng tỏ mầu nhiệm được thể hiện bằng hành động trước đó. Ngược lại, Hành động làm ứng nghiệm những gì được mặc khải qua lời nói.

Ví dụ: “Ta thấy cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập… Ta xuống giải thoát chúng…” thế rồi Chúa đã dùng cánh tay uy quyền giải phóng dân Israel khỏi nô lệ Ai Cập (x. Xh 3,7-8). “Ta thương đoàn dân này…” và sau lời nói này Chúa đã hoá bánh ra nhiều nuôi dưỡng dân (x. Mt 15,32).

a, Lời mặc khải.

Nghĩa là Thiên Chúa tuyên phán trực tiếp Lời của Người, hoặc qua miệng các tổ phụ và các ngôn sứ về danh Người hoặc về ý định của Người. Ví dụ: truyền giới răn trên núi Sinai, Đức Giêsu ban bố Hiến Chương Nước Trời…

b, Lời  hành động.

Là bằng chính việc làm, Thiên Chúa bày tỏ bản tính của Người và thánh ý của Người là Đấng sáng tạo, quan phòng săn sóc, thương xót con người và luôn trung tín với giao ước Người đã ban cho nhân loại. Ví dụ: Hai chương đầu của sách sáng thế, Tv 33, 6; 1Pr 1,23…).

c, Mặc khải trong Cựu Ước.

- Thiên Chúa cho biết Người là Đấng Sáng Tạo và Quan Phòng (x. Ga 1,3; Rm 1, 19-20).

- Săn sóc và ban lời hứa cứu độ (x. St 3,8.15).

- Chọn một dân riêng (kêu gọi Abraham) để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế ra đời.

- Dùng các tổ phụ và các ngôn sứ để giáo huấn.

d, Mặc khải trong Tân Ước.

Thiên Chúa không còn nói với một dân tộc và qua các ngôn sứ nữa, nhưng Người nói với toàn thể nhân loại và nhờ chính Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 3,34; Dt 1,1-2).

Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Giêsu bấy giờ là Emmanuel – ở cùng nhân loại, để không chỉ giúp riêng dân Israel thoát ách nô lệ ngoại bang nữa, mà là cứu chuộc nhân loại thoát ách nô lệ ma quỷ, tội lỗi và sự chết, nâng con người lên địa vị làm Con Thiên Chúa và xứng đáng tham dự vào đời sống vĩnh cửu.

Tân Ước hoàn tất trọn vẹn chương trình mặc khải được khởi đầu và chuẩn bị trong Cựu Ước.

 

4. Các nguồn mặc khải.

Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận Thánh Kinh và Thánh truyền là hai nguồn mặc khải chính và bổ túc nhau. Điều này khác với Giáo Hội Tin Lành chỉ nhìn nhận Thánh Kinh là mặc khải duy nhất.

a, Thánh truyền.

Thánh truyền là những mặc khải tuy không được chép thành văn, nhưng vẫn được các kitô hữu sống và thực hành. Chẳng hạn các phẩm trật, quyền bính của Giáo Hội, quyền thủ lãnh của thánh Phêrô và các đấng kế vị ngài, quyền giáo huấn của các tông đồ…

 b, Thánh Kinh.

Thánh Kinh là một kho tàng mặc khải được chép thành văn và lưu truyền cho hậu thế. Có thể nói, cho đến hôm nay chưa có một sách nào được ấn bản nhiều và có thời gian lưu hành dài như Thánh Kinh.

c, Thái độ đối với Lời Chúa.

Các tín hữu sơ khai là những nhân chứng sống động trong việc sống Lời Chúa, họ ý thức tầm quan trọng của Lời Chúa và sùng mộ Lời Chúa.

Các tín hữu sơ khai đón nhận Lời Chúa giữa bao gian truân thử thách, với sự hoan hỷ của Thánh Thần, khiến họ nên mẫu mực cho mọi kẻ tin (1Tx 1, 6). Họ lắng nghe và ngoan ngoãn đem ra thực hành. Thánh Giacôbê viết: “Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo -luật mang lại tự do-, ai thi hành luật Chúa, chứ không nghe qua rồi bỏ, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm” (Gc 1, 25). Nhờ trung thành thực thi Lời Chúa nên các tín hữu đầu tiên đã lớn mạnh trong ân sủng. Tác giả sách Công Vụ Tông Đồ dám đồng hoá sự tăng trưởng của Giáo Hội sơ khai với sự tăng trưởng của Lời Chúa. Nói cách khác, một khi các kitô hữu tiếp thu và thực hành Lời Chúa, thì Lời Chúa sẽ làm phát triển sự sống thiêng liêng (x. Cv 6,7; 12,24…). Cuối cùng, các kitô hữu sơ khai đã dám liều chết vì Lời Chúa (x. Kh 6,9) vì Lời Chúa dành cho họ sự toàn thắng cuối cùng (x. Kh 12, 11).

Ngày nay, sau công đồng Vaticano II, phong trào học hỏi Lời Chúađang phát khởi mạnh mẽ. Đó là một điểm son của thời đại. Hơn bao giờ hết, chính Giáo Hội cũng muốn mở rộng lối vào Thánh Kinh cho các kitô hữu. Vì Lời Chúa có sức mạnh và quyền năng để nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn nguồn sống thiêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội (Dei Verbum 21). Vì thế phải đón nhận Lời Chúa với lòng yêu mến và trân trọng[3].

 

5. Phân loại mặc khải.

a, Mặc khải tư.

Mặc khải tư (Private revelation) là chỉ nhắm tới một số người được giới hạn bởi không gian hoặc thời gian, và không phải là nền tảng của đạo.

Ví dụ: Những tiết lộ Fatima, Mễ Du…

b, Mặc khải công.

Mặc khải công (Public Revelatio) là mặc khải nhắm tới lợi ích chung của toàn thể nhân loại, và là nền tảng của đạo.

Ví dụ: Mặc khải cho Môisê biết Thiên Chúa là Giavê (có); mặc khải cho Phêrô biết Đức Giêsu là Đấng Kitô hằng sống…

 

B. Khái niệm về linh hứng và vô ngộ.

Trong Thánh Kinh, có nhiều vấn nạn liên quan đến đức tin, khoa học và lịch sử. Tuy nhiên, khi tìm hiểu, chúng ta không nên quá chú trọng đến tính khoa học hay tính lịch sử, mà là cần có cái nhìn của đức tin. Sở dĩ Thánh Kinh được Do Thái Giáo và Kitô Giáo công nhận như bản văn mặc khải, vì được Chúa Thánh Thần linh hứng và bảo đảm cho khỏi sai lầm.

 

1. Linh hứng.

Chữ LINH HỨNG được dịch từ INSPIRATIO (Latinh): In là trongSpirare là thổi. Cái gì thổi? Gió thổi. Trong Thánh Kinh, gió hay hơi (ruah) được dùng để chỉ Thần Khí, tức là Chúa Thánh Thần.

Vậy, Linh hứng hiểu cách đơn giản là “được Thánh Thần thổi cho”.

Ơn linh hứng là ơn Chúa Thánh Thần tác động trên người viết, là ảnh hưởng siêu nhiên, có công dụng nâng cao và thúc đẩy khả năng của tác giả chép Thánh Kinh để họ chỉ viết những gì Thiên Chúa muốn, đồng thời cũng hướng dẫn họ trong việc sử dụng những từ ngữ và thể văn thích hợp để không làm sai lạc chân lý mà Thiên Chúa muốn mặc khải.

Đức giáo hoàng Lêô XIII, trong thông điệp Providentissimus Deus (18.11.1893), viết về tác động của Chúa Thánh Thần như sau : ”Bằng một sức mạnh siêu nhiên, Thiên Chúa đã khơi động và thúc đẩy các soạn giả viết. Trong khi các vị viết, Người giúp các vị suy tưởng đúng, muốn viết lại cách trung thành và diễn tả cách thích hợp bằng chân lý không sai lầm, hiểu theo nghĩa là đạt tới mục đích cứu rỗi (apte infaillibiti veritate exprimerunt) tất cả những gì Người truyền cho các vị viết và chỉ những điều đó thôi. Nếu không có như thế thì Người không phải là tác giả của tất cả Kinh Thánh” (EB 125 ; Dz 3293). Đây là bản văn rất quan trọng, vẫn được coi là một định nghĩa ơn linh hứng, bởi vì đoạn văn mô tả tác động cụ thể của ơn linh hứng nơi soạn giả khi ông đang làm việc : Thánh Thần hoạt động cùng với soạn giả con người. Người có sáng kiến, nhưng soạn giả thánh không thụ động, trái lại vẫn làm việc và cộng tác bằng trí tuệ, ý muốn và khả năng hành động.

Đức giáo hoàng Piô XII trong thông điệp Divino afflante Spiritu (30.9.1943), được coi là hiến chương mới của khoa nghiên cứu Kinh Thánh trong Giáo Hội công giáo, và đã có ảnh hưởng rất lớn. Về vấn đề linh hứng, thông điệp nhấn mạnh đến vai trò của soạn giả : “Khi chép Sách Thánh, soạn giả thánh là dụng cụ của Chúa Thánh Thần, một dụng cụ sống và có lý trí”, do đó, “khi được Thiên Chúa tác động, vẫn còn sử dụng những khả năng và sức lực của mình. Thế nên từ cuốn sách do công lao soạn giả làm ra, ai nấy có thể nhận thấy dễ dàng tính cách riêng và những nét đặc thù của mỗi soạn giả” (EB 556).

Công đồng Vaticano II trong Hiến Chế Mặc Khải đã viết : “Những điều Thiên Chúa măc khải và Kinh Thánh chứa đựng và trình bày, đều đã được ghi chép do ơn Chúa Thánh Thần soi sáng (Spiritu Sancto afflante). Giáo Hội, Mẹ Thánh chúng ta, do niềm tin bắt nguồn từ thời các thánh Tông Đồ, coi là Sách Thánh và thuộc Thư qui toàn bộ các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước với tất cả các phần đoạn, vì lý do là các sách đó đã được chép nhờ ơn Chúa Thánh Thần linh hứng (Spiritu Sancto inspirante) nên có Thiên Chúa là tác giả và đã được truyền lại cho Giáo Hội với tư cách đó. Trong việc soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn một số người và dùng họ, mà họ vẫn sử dụng những khả năng và sức lực của mình, để nhờ chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra với tư cách là những tác giả thực sự, tất cả những gì Người muốn và chỉ viết những điều đó thôi” (DV 11).

Dưới đây ta theo kiểu nói của thông điệp Providentissimus Deus để nói rõ hoạt động của ơn linh hứng trên soạn giả thánh. 

- Trong trí tuệ : Thiên Chúa soi sáng:

Để trình bày chân lý như Thiên Chúa muốn, trước tiên cần phải có một quan niệm cho đúng. Ơn linh hứng sẽ giúp trí tuệ soạn giả thánh nhận thức đúng. Một trong những yếu tố góp phần tích cực để hiểu tác động của ơn linh hứng đối với trí tuệ của soạn giả thánh là cách phân biệt phán đoán trừu tượng và phán đoán thực hành cùng vai trò của nó. 

Ơn linh hứng tác động vào trí tuệ, giúp cho soạn giả nhận thức chân lý Thiên Chúa muốn thông ban và biết nên viết điều gì và viết cách nào. Ánh sáng linh hứng đó có tính cách nội tại, để lời viết ra thực sự là của con người, và cũng là Lời của Thiên Chúa nhờ ánh sáng đó, bởi vì nếu là ngoại tại thì việc làm của soạn giả thánh không còn tính cách tự do nữa mà là bị cưỡng bách.

- Trong ý chí : Thiên Chúa thúc đẩy:

Ơn Thiên Chúa thúc đẩy soạn giả thánh để chỉ muốn viết những gì Thiên Chúa muốn. Vấn đề là sự hài hòa giữa ý muốn của Thiên Chúa với ý muốn của con người như thế nào. Nếu soạn giả thánh là một dụng cụ có lý trí và tự do, thì Thiên Chúa cũng phải sử dụng dụng cụ đó theo bản tính của nó là có tự do. Vì đó ơn linh hứng phải tác động trên ý chí vì đây là quan năng làm cho con người hành động như con người tức là có tự do.

- Trong hành động: Thiên Chúa giúp đỡ:

Ý chí không những quyết định những gì trí tuệ thấy cần phải viết, nhưng còn vận dụng mọi cơ năng để thực hiện quyết định đó nữa. Vậy ơn linh hứng cũng tác động trên cả những cơ năng thực hành nữa. Khi thực hiện ý định viết, Thiên Chúa sẽ nâng đỡ các khả năng hành động như trí tưởng tượng, trí nhớ, tâm tình, khiếu viết văn và cả những hoạt động thân thể nữa. Vì Sách Thánh là tác phẩm của Thiên Chúa và của con người, nên cũng phải qui những tác động của con người về cho Người, nghĩa là Người ban ơn linh hứng siêu nhiên trợ giúp. 

Như vậy, ai là tác giả Thánh Kinh?

 

2. Các tác giả Thánh Kinh.

a, Thiên Chúa.

Vì chính Thiên Chúa linh hứng cho người ta chép và chỉ chép ra những gì Người muốn bày tỏ với nhân loại, nên tác giả chính của Thánh Kinh là chính Thiên Chúa. Chính vì  thế mà Thánh Kinh được gọi là Lời Chúa.

b, Các thánh ký (người viết).

Các tác giả chép Thánh Kinh không phải chỉ nghe Chúa Thánh Thần phát âm chữ nào thì viết ra chữ đó, nhưng các vị chép Thánh Kinh là những con người tự do và luôn sử dụng tài năng riêng cùng quan niệm bình dân và tư tưởng thời đại để diễn tả trước hết là cho người đương thời biết những chân lý mặc khải của Thiên Chúa. Vì thế, các vị cũng là những tác giả thực của Thánh Kinh, nhưng chính là những tác giả phụ mà thôi, vì nội dung chính không phải là do sáng kiến của các vị, mà hoàn toàn là Lời mặc khải của Thiên Chúa.

 

3. Vô ngộ.

Thiên Chúa là Đấng thông minh và chân thật tuyệt đối, nghĩa là Người không thể sai lầm và Người cũng không hề lừa dối ai. Vì thế những điều Người linh hứng cho các thánh ký cũng không thể sai lầm được. Điều này cũng có nghĩa là Thánh Kinh không thể sai lầm.

Sự vô ngộ của Thánh Kinh xuất phát từ Ơn Linh Hứng. Thật vậy, nếu tin rằng chính Thánh Thần linh hứng, tức là soi sáng và hướng dẫn các thánh ký để họ viết ra thì bản văn Thánh Kinh không thể sai lầm, vì Ngài là Thần Chân Lý. Đức Kitô hứa ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, như trí khôn và trí nhớ của họ: Là trí khôn, Ngài cho họ thấu hiểu những điều bí nhiệm (x/ Ga 16,13); là trí nhớ, Ngài nhắc cho họ những gì Chúa đã nói với họ (x. Ga 14, 26).

Tuy nhiên, nếu dừng lại theo phương diện khoa học và lịch sử thì không thiếu những mâu thuẫn và sai lầm. Chẳng hạn tường thuật không logich về việc sáng tạo, hoặc đoạn Tin Mừng Matthêu trích dẫn câu: “Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmaia: họ đã lượm ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà số con cái Israel đã đặt khi đánh giá Người”. Câu này của sách ngôn sứ Giacaria nhưng Matthêu lại lầm lẫn là của Giêrêmia (x. Mt 27,9 // Gcr 11,12). Như thế, chúng ta phải hiểu thế nào khi nói Thánh Kinh không thể sai lầm?

Chúng ta có lập trường sau đây của Giáo Hội:

Công đồng Vaticano II trong Hiến Chế Mặc Khải dạy:

- “Phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng viết ra, tức các soạn giả thánh, là những Lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Kinh Thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Kinh Thánh ghi lại vì ơn cứu độcủa chúng ta...” (DV 11)

- “... Để tìm ra chủ ý của soạn giả thánh, giữa những phương pháp khác, cũng cần xét đến văn loại. Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác. Hơn nữa, nhà chú giải còn có bổn phận tìm hiểu ý nghĩa mà trong những trường hợp nhất định, soạn giả thánh đã muốn diễn tả và thực sự đã diễn tả trong hoàn cảnh thời đại và văn hóa của họ qua các lối văn được dùng trong thời đó. Thực vậy, để hiểu đúng ý nghĩa Kinh Thánh muốn quả quyết trong bản văn, chúng ta phải chú tâm đúng mức đến các cách thức cảm nghĩ, diễn tả, tường thuật do bẩm sinh, được thịnh hành trong thời của họ, cũng như phải để ý đến các hình thức mà người thời ấy thường dùng khi giao tế với nhau” (DV 12).

Giáo Hội tin Thánh Kinh vô ngộ vì:

- Giáo Hội thừa kế lòng tin tưởng đó của dân tộc Do Thái.

- Giáo Hội dựa trên uy tín của Đức Kitô (x. Mt 22,31).

- Giáo Hội dựa trên thế giá các Tông Đồ (x. Cv 2, 16).

- Giáo Hội dựa trên lời quả quyết của các giáo phụ: Thánh Clément I viết: “Anh em đừng xuyên tạc Lời Chúa vì đó là Lời chân thật”; thánh Augustine cũng dạy: “Thánh Kinh chân thật và không ai  phủ nhận chân lý này, trừ phi kẻ bất lương”.

Như vậy:

- Thánh Kinh là Lời Chúa nói với loài người bằng ngôn ngữ nhân loại (cách nói của loài người), nhờ đó giúp người ta có thể lãnh hội được Lời Chúa cách dễ dàng hơn.

- Chỉ những mặc khải về Ơn Cứu Rỗi mới là nội dung chính của Thánh Kinh mà thôi. Đối với những chân lý về Ơn Cứu Rỗi thì Thánh Kinh không thể sai lầm được (S. Augustin, S. Thomas d’Aquine).

- Những chân lý thuộc lãnh vực khoa học, lịch sử, văn phạm… không phải là những chân lý mà Chúa Thánh Thần muốn dạy dỗ loài người qua chương trình mặc khải, nghĩa là những chân lý ấy không thuộc về nội dung chính của Thánh Kinh.

- Các sai lầm trong các lãnh vực thuộc về nội dung chính của Thánh Kinh không hề ảnh hưởng đến các chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi, nghĩa là không làm sai lạc những chân lý mà Thiên Chúa muốn mặc khải cho con người để họ có thể đạt tới Ơn Cứu Rỗi.

 Các tác giả Thánh Kinh có thể sai lầm theo suy nghĩ bình dân, hoặc các ngài phản ảnh những sai lầm của thời đại khi đề cập đến các chân lý ấy.

Trong lãnh vực khoa học: Thánh Kinh được viết ra không nhằm trình bày khoa học. Thánh Kinh không phải là cuốn vạn vật học hay vũ trụ học. Thánh Kinh chỉ muốn loan báo chân lý cứu rỗi, bằng những kiểu nói đơn sơ của người đương thời.

Trong lãnh vực lịch sử: Nếu có những lầm lẫn về các sự kiện hay biến cố lịch sử, ta cần biết rằng, chủ ý của tác giả nhằm giúp ta thấu hiểu hoạt động kỳ diệu của Thiên Chúa trong lịch sử mà thôi. Bởi thế, tác giả ít quan tâm đến việc kiểm chứng các sự kiện hay các tài liệu sẵn có trong tay.

Trong lãnh vực luân lý: Vì Thánh Kinh được viết trong một thời gian rất dài và trong nhiều thời kỳ khác nhau, nên đời sống dân Chúa cũng được cải tiến cách tiệm tiến. Vì thế, nếu có những tập tục xem ra trái với Tin Mừng của Chúa Kitô, thì ta chớ bỡ ngỡ. Lý do là dân trí thời ấy còn thô lỗ lúc ban đầu.

 

C. Khái niệm về giao ước.

I, Định nghĩa.

1, Cấu tạo Thánh Kinh.

Được gọi là Thánh Kinh hay Sách Thánh là bởi vì:

- Tác giả là chính Thiên Chúa chí thánh.

- Vì trong đó chứa đựng những điều thánh thiện.

- Vì những trang sách này có sức thánh hoá người đọc (S. Thomas Aquino).

Thánh Kinh là một bộ sách gồm 73 cuốn, được chia làm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước. Bộ sách chứa đựng các chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi, do nhiều tác giả viết ra dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần (ơn Linh Hứng).

Thánh Kinh được viết vào những thời kỳ khác nhau, trải dài từ khoảng năm 1350 trước Chúa Giáng Sinh đến năm 100 sau Chúa Giáng Sinh.

Thánh Kinh cũng được coi là bộ sách Giao Ước, trong đó bao gồm Cựu Ước (giao ước cũ) và Tân Ước (giao ước mới). Cả hai đều gồm ba thể loại: Lịch Sử, Ngôn Sứ và Giáo Huấn.

 

2, Định nghĩa giao ước.

Giao ước là một thoả thuận giữa hai bên, được thiết lập và đóng ấn bằng một nghi lễ công khai. Qua đó mỗi bên đều được hưởng những quyền lợi, kèm theo những ràng buộc và phải thi hành một số điều kiện.

Theo phong tục cổ thời, các dân vùng Lưỡng Hà Địa  thì sau khi hai bên đạt được thoả thuận cho việc ký kết, người ta giết một con vật, rồi phân thây con vật làm hai nửa. Sau đó đại diện hai bên lần lượt đi qua giữa hai phần của con vật đó, ngụ ý nói lên quyết tâm thực hiện điều đã ký kết và sẵn sàng chịu chung số phận như con vật nếu vi phạm điều đã giao ước (x. St 15, 7-20; Gr 31,31; 34,18-22).

Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa chặt, thì không thể có giao ước đúng nghĩa giữa Thiên Chúa và loài người. Vì giao ước chỉ được thiết lập giữa hai bên ngang hàng với nhau và hai bên đều được hưởng lợi và cùng phải có bổn phận ràng buộc. Trong khi Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo và con người chỉ là thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên từ hư vô thì không thể ngang hàng với nhau được. Đồng thời Thiên Chúa cũng chẳng được lợi ích gì và Người cũng không thể bị ràng buộc vào bổn phận phải thi hành, vì mọi sự đều là của Thiên Chúa. Nhưng vì yêu thương Thiên Chúa đã tự hạ cố để thiết lập giao ước, nên đúng hơn phải hiểu giao ước giữa Thiên Chúa với loài người là một Lời Hứa được ban cho con người mà thôi (x. St 9,11; 15,5; Xh 19,5).

Giao ước khác biệt với mọi bản giao kèo hay hợp đồng giao kết khác, nghĩa là các bản giao kết kia nếu một bên vi phạm thì bên còn lại không bị ràng buộc nữa, trong khi Giao Ước thì không thay đổi, bằng chứng là phía con người bất tín biết bao lần, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trung tín.

 

3. Giao ước cũ và giao ước mới.

a, Cựu Ước.

Là Lời Giao Ước Cũ mà Thiên Chúa thiết lập với dân riêng của Người là Israel qua trung gian là các tổ phụ và các ngôn sứ, và được đóng ấn bằng máu con vật sát tế.

 

CÁC SÁCH CỰU ƯỚC (46 cuốn)[4]:

* 21 sách lịch sử: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật, Giosuê, Thủ Lãnh, Rút, 1&2 Samuel, 1&2 Vua, 1&2 Sử Biên Niên, Ét-ra, Nơkhemia, Tôbia, Giútđita, Ét-te, 1&2 Macabê.

* 18 sách ngôn sứ: Isaia, Giêrêmia, Aica, Barúc, Edêkien, Đanien, Hôsê, Giôen, Amốt, Ovađia, Giôna, Mika, Nakhum, Khabacuc, Xophonia, Khácgai, Dacaria, Malakia.

* 7 sách giáo huấn: Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca.

 

b, Tân Ước.

Là Lời Giao Ước Mới mà Thiên Chúa thiết lập với toàn thể nhân loại nhờ chính Con Một Người là Chúa Giêsu và được đóng ấn bằng chính Máu của Người đổ ra trên thập giá (x. Mc 14,22-25; 1Cr 11,23-25).

 

CÁC SÁCH TÂN ƯỚC (27 cuốn):

* 5 sách lịch sử: Mátthêu, Máccô, Luca, Gioan, Công Vụ Tông Đồ.

* 1 sách ngôn sứ: Khải Huyền

* 21 sách giáo huấn (các thư): Rôma, 1&2 Côrintô, Galát, Ephêsô, Philípphê, Côlôsê, 1&2 Thêxalônica, 1&2 Timôthê, Titô, Philêmôn, Do Thái, Giacôbê, 1&2 Phêrô, 1&2&3 Gioan, Giuđa.

 

II. Các nguồn tài liệu.

1. Các sách luật (ngũ kinh)[5].

Ngũ Kinh: 5 cuốn sách đầu tiên của Thánh Kinh làm thành một khối duy nhất gọi là sách Luật[6]. Để đạt tới như hiện nay, Ngũ Kinh đã trải qua một quá trình thành hình và phát triển lâu dài.

Ban đầu khi nhìn vào thế giới, khi quan sát các hiện tượng trong trời đất, khi chứng kiến cuộc sống và thân phận con người, khi kinh nghiệm về các biến cố trong lịch sử… một số người trong Israel được mặc khải của Thiên Chúa đã suy tư và tìm hiểu ý nghĩa của những thực tại này. Rồi để phổ biến những kiến thức và kinh nghiệm lãnh hội được từ Thiên Chúa, các tác giả đã dùng những tích truyện, những bài thơ, những điều luật làm phương tiện chuyển tải cho mọi người. Nhờ đó mà chúng ta có bộ Thánh Kinh, cách riêng bộ Ngũ Kinh[7].

Những truyền thống trên bao gồm nhiều tài liệu khác nhau, lắm lúc có cả những tài liệu không cần thiết. Vì thế, qua những biến cố quan trọng ảnh hưởng đến đức tin vào Thiên Chúa, như việc tìm thấy sách Luật trong đền thờ, cuộc lưu đày… người ta đã hiệu đính lại các truyền thống và loại bỏ những gì không cần thiết, đồng thời đưa ra những chú giải làm căn bản thần học cho các truyền thống ấy.

Ngày nay các nhà chú giải phân biệt được thành 4 truyền thống khác nhau lẫn lộn trong bộ Ngũ Kinh:

a, Truyền thống J

J là chữ viết tắt chữ Javeh (Gia-vê). Được gọi là truyền thống Gia-vê vì các đoạn văn thuộc truyền thống này gọi danh Thiên Chúa là Gia-vê.

Truyền thống J xuất hiện ở Miền Nam (Giuđa) vào khoảng thế kỷ X trước Chúa Giáng Sinh, dưới thời Đavít và Salômon trị vì Israel.

Đặc điểm của truyền thống này là dùng cách thức của con người để diễn tả Thiên Chúa. Chẳng hạn: Kể chuyện Thiên Chúa giống như thợ gốm ngồi lấy đất nặn ra con người, lấy xương sườn đàn ông để đắp thành đàn bà…

Truyền thống J trình bày giai đoạn lịch sử bao quát kéo dài từ con người khởi thuỷ đến biến cố Xuất Hành. Chủ đề tổng quát của truyền thống J là LỜI HỨA và THỰC HIỆN LỜI HỨA được trình bày qua các trình thuật về các tổ phụ.

b, Truyền thống E

E là viết tắt chữ Ê-lô-him. Được gọi là truyền thống Ê-lô-him vì các đoạn văn thuộc truyền thống này gọi Thiên Chúa là Ê-lô-him.

Truyền thống E xuất hiện muộn hơn truyền thống J, thuộc miền Bắc, tức vào khoảng thế kỷ IX trước Chúa Giáng Sinh.

Đặc điểm của truyền thống này là luôn tránh lối diễn tả về Thiên Chúa theo cách thức con người. Vì thế, khi tường thuật việc Thiên Chúa muốn mặc khải điều gì, thì truyền thống E không dùng hình thức trực tiếp mà dùng các cách thức như: báo mộng, đám mây, ngọn lửa, thiên thần…

Về mặt luân lý, truyền thống E khắt khe hơn truyền thống J, để đương đầu với lối sống vô luân và phong tục của các bộ tộc ngoại đạo sống xung quanh hoặc lẫn lộn với dân Israel.

c, Truyền thống P

P là viết tắt chữ Priest (tư tế). Được gọi là truyền thống tư tế, vì các bản văn thuộc truyền thống tập chú đến những gì liên quan đến chức tư tế và phụng vụ, như: các ngày lễ, của lễ, y phục thánh…

Truyền thống P xuất hiện vào thời lưu đày. Giữa lúc dân Chúa sống giữa thế giới dân ngoại, nên rất dễ bị lung lạc và đồng hoá với các hình thức tôn giáo ngoại đạo. Vì thế, truyền thống P ra đời nhằm bảo vệ đức tin tinh tuyền và cách thờ tự Thiên Chúa của Israel.

Cũng như truyền thống E, đặc điểm của truyền thống P cũng luôn tránh lối diễn tả Thiên Chúa theo cách thức con người, vì Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt Tuyệt Đối. Đặc biệt đặt trọng tâm vào chủ đề: Thiên Chúa là Đấng Thánh, nên Israel cũng phải thánh thiện, nghĩa là phải tách biệt ra khỏi nền luân lý và những hình thức tôn thờ do con người bày ra.

Truyền thống P trình bày lịch sử theo khung cảnh phụng vụ, trình bày lịch sử Israel thành 4 thời kỳ và mỗi thời kỳ được đành dấu bằng một giao ước đặc biệt của Thiên Chúa và được đáp ứng bằng một hình thức tôn thờ đặc biệt.

Tóm lại, truyền thống P được trình bày theo lối phụng vụ trang trọng với chủ đích giúp dân Israel lưu đày giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa.

Ba truyền thống J, E và P đan kết lại với nhau làm thành 4 cuốn đầu của bộ Ngũ Kinh.

d, Truyền thống D.

D viết tắt chữ Deutoronomy (luật thứ hai). Được gọi là truyền thống Đệ Nhị Luật vì nói về luật và là nội dung của sách Đệ Nhị Luật.[8]

Truyền thống D xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII trước Chúa Giáng Sinh, thuộc thời kỳ khủng hoảng tôn giáo, do các vua gian ác làm tổn hại đến việc tôn kính Giavê, cùng với việc Miền Bắc đã bị sụp đổ và Miền Nam đang bị đe doạ trầm trọng bởi đế quốc Assyri. Trước tình trạng ấy, truyền thống D ra đời nhằm khích lệ dân Israel trung thành với giao ước qua việc tuân giữ lề luật.

Căn bản thần học của truyền thống D là xác tín rằng Giao Ước là lựa chọn đầy yêu thương của Thiên Chúa, do đó tuân giữ giao ước (lề luật) của Thiên Chúa chính là đáp lại sự lựa chọn đầy yêu thương đó.

Cả 4 truyền thống J, E, P và D đều là truyền khẩu, mãi tới thời Đavít và Salomon mới được chép ra thành văn nhờ các thư ký của triều đình. Sau này trong thời kỳ lưu đày ở Babilon và thời kỳ hồi hương mới được các tư tế đúc kết lại các tài liệu như chúng ta có ngày hôm nay[9].

 

2. Văn chương ngôn sứ [10].

Ngôn sứ được hiểu là một sứ giả của Thiên Chúa và chuyển đạt Lời Chúa, chuyển đạt ý định của Thiên Chúa cho dân.

Các ngôn sứ nhận được sứ điệp từ Thiên Chúa đôi khi qua thị kiến (x Is 6, Ed 1-3…), nhưng thường thì qua ơn linh hứng diễn ra nơi nội tâm. Các vị nhận thức được rõ về linh hứng và xác tín rằng đó là mặc khải của Thiên Chúa và phải được rao giảng cho dân.

Văn chương ngôn sứ: Để rao giảng Lời Chúa cho dân, các ngôn sứ đã sử dụng nhiều hình thức văn chương khác nhau như: THƠ TRỮ TÌNH, NHỮNG TƯỜNG THUẬT BẰNG VĂN XUÔI, NGỤ NGÔN, NHỮNG BÀI GIẢNG THUYẾT, SẤM NGÔN, AI CA, CHÂM BIẾM… Sứ điệp Lời Chúa được các ngôn sứ rao giảng liên quan đến hiện tại và tương lai. Các ngài cũng có thể tiên báo một biến cố sắp xảy đến để minh chứng lời nói và sứ vụ của mình xuất phát từ Thiên Chúa (x. 1Sm 10,1tt; Is 7, 14; Gr 28,15tt).

Để phân biệt đâu là một ngôn sứ có thật là do Thiên Chúa sai đến hay không, Thánh Kinh giúp chúng ta biết dựa theo 1 trong 2 tiêu chuẩn sau đây:

1% Những lời do ngôn sứ rao giảng phải được ứng nghiệm(x. Gr 28,9; Đnl 18,22). Điều này khó tin với người đương thời, vì thường thì lời ngôn sứ được ứng nghiệm trong một tương lai xa. Vì thế, cần đến tiêu chuẩn thứ 2 sau đây:

2% Giáo huấn của ngôn sứ rao giảng phù hợp với tôn giáo Gia-vê (x. Gr 23,22; Đnl 13,2-6). Hơn nữa, các lời ngôn sứ hầu như không bao giờ nói đến những điều bình an giả tạo trước sự suy đồi đạo đức, nhưng thường thì các ngôn sứ nói đến những lời cảnh tỉnh khó nghe, vì đó là lệnh của Thiên Chúa thức tỉnh dân Người.

 

Tiền ngôn sứ và hậu ngôn sứ: Quy điển Thánh Kinh Do Thái thì các sách: Giosuê, Thủ Lãnh, Samuel, Các Vua là sách TIỀN NGÔN SỨ, để phân biệt với HẬU NGÔN SỨ là: Isaia, Giêrêmia, Êdêkien và 12 ngôn sứ nhỏ[11].

 

3. Các sách khôn ngoan [12].

Tìm kiếm và chiếm hữu được khôn ngoan là một khát vọng lớn lao. Vì thế, đi tìm sự khôn ngoan hiểu biết là một phong trào rất thịnh hành của các dân tộc. Mục đích của công cuộc tìm kiếm khôn ngoan là thâu thập những kinh nghiệm rút từ cuộc sống hằng ngày, rồi đúc kết lại thành một nghệ thuật sống giúp người ta thành công trên đường đời, biết sống hoà hợp với mọi người và vũ trụ, để đạt được hạnh phúc.

Các kinh nghiệm rút từ cuộc sống và những quan sát tuần hoàn của vũ trụ được lưu truyền lại bằng những câu CÁCH NGÔN, TÍCH TRUYỆN, BÀI THƠ, ANH HÙNG CA… và làm thành một kho văn chương độc đáo, đó là VĂN CHƯƠNG KHÔN NGOAN[13].

Dân Israel cũng hấp thụ nền văn minh và kho tàng khôn ngoan của các dân tộc, nhưng không chỉ dừng lại ở những gì có tính cách nhân bản mà còn được nâng lên một lãnh vực cao siêu hơn, không chỉ dừng lại ở lãnh vực cuộc sống thường ngày mà thăng hoá lên trong cái nhìn tôn giáo, nghĩa là sự khôn ngoan đích thực xuất phát từ Giavê, được soi sáng bởi Giavê và sự khôn ngoan của mọi khôn ngoan chính là lòng đạo đức và kính sợ Đức Chúa. Có thể so sánh sự khác biệt: Khôn ngoan dân ngoại đưa ra sự đối lập giữa khôn và dại, thì khôn ngoan Isrel đưa ra sự đối lập giữa đạo đức và vô luân, giữa công chính và bất chính…

Tóm lại: Các nguồn tài liệu lịch sử, ngôn sứ và khôn ngoan đã tạo nên một cuốn Thánh Kinh duy nhất.

 

 

 

[1]Kinh Thánh là một từ áp dụng cho các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau. Các văn bản này thường được viết trong giai đoạn hình thành của các niềm tin Do Thái và Kitô; những người lãnh đạo của các cộng đồng này tin đây là các sách được linh truyền từ Thiên Chúa để thể hiện lịch sử uy quyền của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của ngài.

Kinh Thánh Do Thái giáo còn gọi là Tanakh, gồm 3 phần: Luật Giao Ước (Torah), Sách Ngôn Sứ (Neviim) và Sách Văn Chương (Ketubim hay Ketuvim). Các Kitô hữu gọi chung là Cựu Ước để phân biệt với Tân Ước do các môn đệ của Chúa Giêsu (và những người thừa kế họ) viết ra. Theo truyền thống của Kitô giáo, Cựu Ước được chia thành các sách Ngũ Kinh, Lịch Sử, Ngôn Sứ và Giáo Huấn. Tân Ước bao gồm bốn sách Phúc Âm, sách Công vụ Tông đồ, các thư của Phaolô, các thư của các sứ đồ khác và sách Khải Huyền.

Tanakh gồm 24 quyển, nhưng Tin Lành tính thành 39 quyển. Giáo hội Công giáo và các giáo phái Ki-tô khác có thêm một số sách trong Cựu Ước, lấy từ Bản Bảy Mươi (Septuagint) của Do Thái vì họ giữ các sách này lại sau khi chúng bị những người cải cách Tin Lành bỏ ra. Kinh thánh Tân Ước hình thành sau khi Giêsu sinh ra, gồm 27 quyển, được cố định vào thế kỷ thứ 4 và được hầu hết các giáo hội Ki-tô chấp nhận. (Xem Quy điển Kinh Thánh).

Kinh thánh có lẽ là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người. Số bản in Kinh thánh vượt mọi sách khác. Kinh thánh Do Thái giáo cũng như Kinh Thánh Kitô giáo được dịch nhiều lần, sang nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ sách nào khác. Kinh Thánh trọn bộ, hoặc một phần, đã được dịch sang hơn 2.100 ngôn ngữ của 90% dân số thế giới. Kể từ năm 1815, ước tính có khoảng hơn 5 tỉ ấn bản Kinh thánh trọn bộ hoặc các phần quan trọng của Kinh Thánh được phân phối, trở nên sách bán chạy nhất trong mọi thời đại.

Thuật ngữ "Kinh thánh" cũng được dùng cho các văn bản thiêng liêng của các niềm tin không Do Thái và không Ki-tô; vì vậy Guru Granth Sahib thường được dùng để chỉ "Kinh thánh Sikh".

Nhiều nhà giáo dục thấy rằng Kinh thánh Ki-tô đã ăn rễ vững chắc vào văn hoá phương Tây đến nỗi "bất cứ ai, dù có niềm tin hay không, nếu không quen thuộc với các giá trị và giáo huấn của Kinh thánh sẽ trở nên dốt nát về văn hoá."[1]

Từ "kinh thánh" trong tiếng Hy Lạp là  biblia (biblia), nghĩa là "sách", từ này lại có nguồn gốc từ biblos (byblos) có nghĩa "giấy cói" (papyrus), từ tên của thành phố Byblos xứ Phenicie(Phoenicia) cổ đại, là nơi xuất khẩu giấy cói.

 

[2] Dòng giống người phụ nữ: Khi Kinh Thánh tuyên nhận bà Eva là nguyên tổ của loài người, và Tin Mừng cứu độ được ban ra, bà Eva đã nhận lời hứa cho dòng giống của bà: “… Dòng giống người ấy sẽ đánh vào đầu mi”, điều này có nghĩa sau này chính Đấng Cứu Độ sẽ là con cháu Eva theo nhân tính, và Đức Maria đã sinh ra Đấng Cứu Độ, nên trước hết, hình ảnh này làm nổi bật vai trò người phụ nữ, bổn phận làm mẹ của người phụ nữ và viễn tượng công trình cứu độ, mà trong đó, Đức Maria là Đấng đã sinh ra Đấng Cứu Độ. Tư thế chủ động của dòng dõi người nữ trong cuộc chiến đấu và chiến thắng: Bản văn St 3, 15 cho thấy, dòng dõi người người đàn bà sẽ chiến đấu với Satan trong tư thế “đứng”, chứ không phải tư thế “bò” như con rắn[2]. Điều này cũng ngầm ý cho thấy thế giới sự dữ có nhiều mưu mô xảo trá quỷ quyệt luồn lách như con rắn (x. St 3, 1), nhưng với thế chủ động, dòng giống người nữ sẽ chiến thắng (Stabat Mater). Thiên Chúa đứng về phía người phụ nữ: Khác với sự chúc dữ dành cho con rắn, Thiên Chúa tuyên phạt dòng giống người phụ nữ, nhưng không nguyền rủa họ như nguyền rủa con rắn (x. St 3, 14). Thiên Chúa nghiêng về phía dòng giống Eva, chống lại Satan cám dỗ (x. St 3, 15). Thật vậy, dù không hiểu câu chuyện “sa ngã” theo nghĩa đen, nhưng có thể hiểu rằng, nhờ linh hứng, tác giả sách Sáng Thế đã tin tưởng rằng có quyền lực sự dữ đối nghịch với loài người, mà Thiên Chúa, Đấng Toàn Thiện sẽ bênh vực loài người chống lại. Lời hứa cứu độ là một chuỗi dài cho những biểu hiện của “lòng nhân hậu”… cho đến ngày được viên mãn trong Đức Kitô được sinh ra bởi người phụ nữ là Đức Maria.

[3] Viện phụ Dominico Phạm Văn Hiền, Giáo An Thánh Kinh.

[4]Kinh Thánh Hebrew (còn gọi là Kinh Thánh Do Thái giáo, hoặc Tanakh trong tiếng Do Thái) có 24 sách. Tanakh là chữ viết tắt của ba phần trong Kinh Thánh Hebrew: Torah (Ngũ Thư hoặc Ngũ Kinh), Nevi’im (Ngôn sứ hoặc Tiên tri), và Ketuvim (Văn chương). Kinh Thánh có khoảng 160.764 từ.

[5] Torah hoặc “Giáo huấn” được biết đến với tên Ngũ Kinh của Moses (Mô-sê hoặc Môi-se trong tiếng Việt), vì vậy còn có tên Chumash hay Pentateuch (tiếng Hebrew hoặc tiếng Hi Lạp nghĩa là “năm”).

Torah tập chú vào ba thời điểm làm thay đổi mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người. Mười một chương đầu của Sách Sáng thế cung cấp những ký thuật về sự sáng tạo (hoặc trật tự) của thế giới, và lịch sử của mối tương giao ban đầu giữa Thiên Chúa và loài người. Ba mươi chín chương còn lại của Sách Sáng thế thuật lại việc thiết lập giao ước giữa Thiên Chúa và các tổ phụ của dân tộc Do Thái như Abraham, Isaac vàJacob (còn gọi là Israel), cùng với dòng dõi của Jacob (“Con dân Israel”), đặc biệt là Joseph, cũng ghi chép về cung cách Thiên Chúa kêu gọi Abraham rời bỏ gia tộc và quê hương ở thành Ur để ra đi, cuối cùng định cư trên đất Canaan, và thuật lại câu chuyện Con dân Israel về sau di cư đến Ai Cập. Bốn sách còn lại của Torah ký thuật cuộc đời của Moses, một hậu duệ sống hàng trăm năm sau các tổ phụ. Các biến cố trong cuộc đời Moses xảy ra cùng lúc với cuộc giải phóng Con dân Israel khỏi ách nô lệ trong xứ Ai Cập, để làm sống lại giao ước giữa họ và Thiên Chúa tại núi Sinai, và về thời kỳ dong ruổi trong hoang mạc cho đến khi một thế hệ mới sẵn sàng tiến vào xứ Canaan. Torah khép lại với ghi chép về cái chết của Moses.

Theo truyền thống, Torah chứa đựng 613 mitzvot, hoặc điều luật, của Thiên Chúa, được mặc khải từ thời kỳ nô lệ trong đất Ai Cập cho đến lúc sống đời tự do trong xứ Canaan. Những điều luật này kiến tạo nền tảng cho luật Halakha của Do Thái giáo và được chi tiết hóa trong bộ luậtTalmud. Torah được chia thành 54 phần, được xướng đọc theo thứ tự trong nghi thức Do Thái giáo, vào mỗi ngày Sabbath (thứ Bảy trong tuần), từ trang đầu của Sách Sáng thế cho đến trang cuối của Đệ nhị luật. Chu trình này chấm dứt và lại khởi đầu vào cuối kỳ Sukkot, còn gọi là Simchat Torah.

[6] Sau khi thoát cảnh nô lệ bên Ai Cập, dân Do Thái được Thiên Chúa dẫn qua sa mạc để tới Xi-nai. Họ đóng trại tại chân núi, trong khi Thiên Chúa ban cho Mô-sê lề luật buộc dân phải vâng theo. Các lời hứa (hay thỏa hiệp giao ước) trước đây Thiên Chúa thực hiện với các cá nhân như Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, nay Người lặp lại với toàn dân. Họ sẽ là dân Thiên Chúa; Người sẽ là Thiên Chúa của họ. Người đã cứu thoát họ và Người chờ mong họ vâng theo lề luật của Người. Đây không phải chỉ là những luật lệ về thờ phượng hay điều hướng những dịp về tôn giáo. Chúng còn bao trùm mọi khía cạnh của cuộc sống. Và chúng được tóm tắt trong Mười Điều Răn. Mười Điều Răn chính Thiên Chúa nói. Và sau đây là chính lời Người:

“Ta là Chúa Thiên Chúa của các ngươi, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập, nơi các ngươi từng làm nô lệ. Các ngươi không được thờ phượng chúa nào khác ngoài Ta. Đừng làm cho mình các hình ảnh của vật nào trên trời, dưới đất hay trong nước dưới lòng đất. Đừng cúi đầu trước bất cứ ngẫu thần nào hay thờ phượng nó, vì Ta là Chúa Thiên Chúa các ngươi và ta không khoan nhượng bất cứ ai đòi ngang hàng với Ta. Ta sẽ trừng phạt kẻ ghét Ta, cả con cháu 3, 4 đời của nó. Nhưng Ta tỏ tình yêu cho hàng ngàn thế hệ những kẻ yêu mến Ta và vâng theo lề luật Ta”.

Đừng dùng tên Ta cho các mục đích xấu xa, vì Ta, Chúa Thiên Chúa các ngươi, Ta sẽ trừng phạt bất cứ ai lạm dụng tên Ta. Hãy giữ ngày Sa-bát và giữ cho nó thánh thiện.Các ngươi có 6 ngày để làm việc, nhưng ngày thứ bẩy là ngày nghỉ ngơi dành riêng dâng kính Ta. Vào ngày ấy, không được ai làm việc, kể cả các ngươi lẫn con cái, nô lệ và xúc vật của các ngươi, cả người ngoại quốc đang sống trong xứ sở các ngươi nữa. Trong 6 ngày, là Chúa, Ta đã làm nên đất, trời, biển và mọi thứ trong chúng, nhưng Ta đã nghỉ ngơi vào ngày thứ bẩy. Chính vì l