Linh Đạo Đan Tu

Đan sĩ Xitô hướng tới tương lai TRONG TINH THẦN CỦA CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN

Hiếu Liêm.

 

Đan sĩ Xitô hướng tới tương lai

TRONG TINH THẦN CỦA CHA TỔ PHỤ BIỂN ĐỨC THUẬN

Hiếu Liêm

 

Khi nói đến tương lai không thể không quay về quá khứ và nhìn vào hiện tại. Quá khứ hiện tại và tương lai là những mốc điểm chặng đường thời gian trong đó con người đã sống, đang sống và sẽ sống. Không thể sống hiện tại mà không có quá khứ, cũng không thể chỉ sống giây phút hiện tại mà không hướng về tương lai. Hiện tại đặt nền trong quá khứ và tương lai được xây dựng trên hiện tai. Do đó, con người hiện tại không thể bỏ quên hay chôn vùi quá khứ, đồng thời cũng không thể dừng chân ở hiện tại, mà phải hướng về một tương lai với niềm hy vọng. Vậy nhân dịp mừng kỷ niệm Bách Chu Niên thành lập Hội Dòng Xitô Thánh Gia, các đan sĩ Xitô Thánh Gia sẽ hướng về tương lai theo tinh thần cha tổ phụ Biển Đức Thuận, đấng sáng lập dòng như thế nào?

 

1. Đan sĩ Xitô Thánh Gia quay về quá khứ để làm sống tinh thần của cha tổ phụ Biển Đức Thuận

Tục ngữ có câu: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. “Tông” là dòng tộc. Trong dòng tộc, con cháu ít nhiều cũng mang dấu ấn của ông bà tổ tiên. Nói cách rộng hơn, truyền thống, tinh thần gia đình dòng tộc, có ảnh hưởng sâu đậm trên các thế hệ con cháu. Vậy là con cháu của cha tổ phụ Biển Đức Thuận, các đan sĩ Xitô Việt Nam hôm nay mang dấu ấn gì của cha tổ phụ đáng kính và đã, đang sống tinh thần của cha tổ phụ như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta cần xác định lại đâu là tinh thần, ý hướng hay ơn linh hứng nguyên thủy của cha tổ phụ khi sáng lập dòng chiêm niệm cho người Việt Nam?

          1.1 Ơn linh hứng lập dòng chiêm niệm nam dành riêng cho người Việt

 Đọc lại Hạnh Tích và Di Ngôn của cha tổ phụ Biển Đức Thuận, trước hết chúng ta nhận thấy rõ ý hướng ban đầu hay ơn linh hứng nguyên thủy của cha tổ phụ là muộn lập dòng nam chiêm niệm cho những tâm hồn thiện chí, muốn tận hiến cuộc đời cho Chúa trong nếp sống đan tu chiêm niệm tại Việt Nam (x. DN, số 0). Ý hướng lập dòng chiêm niệm cho người Việt hằng thôi thúc trong tâm hồn cha tổ phụ ngay từ khi còn ở trong tiểu chủng viện, trước khi sang Việt Nam. Điều này đã được gia đình bà Hyacinthe Louvier, thành Lille làm chứng như sau: “Trước khi sang Việt Nam ngài đến từ giã chúng con lần sau hết, ngài tỏ ý kiến tốt lành là muốn làm thầy dòng và giúp đào luyện cho có thầy dòng Việt Nam”[1].

Khi sang Việt Nam cha tổ phụ vẫn hằng ấp ủ nguyện vọng muốn làm thầy dòng và giúp lập dòng ở địa phận truyền giáo. Cha tổ phụ lập đi lập lại khát vọng này trong sách Hạnh tích, đặc biệt là trong 256 lá thư gửi cho song thân. Ngài than thở với song thân rằng “Địa phận Huế có dòng Kín rồi, còn dòng nam lo việc nguyện gẫm hãm mình thì chưa có”[2]. Cố phú cũng làm chứng rằng: “Cố Thuận hay than thở: Việt Nam có dòng nữ sao lại không có dòng nam? Đàn bà xứ này sinh hoạt chung với nhau được, đàn ông sao lại không?”[3].

Với lòng khao khát mãnh liệt, sau khi đã cầu nguyện, suy nghĩ và bàn hỏi với đấng bản quyền, ngài đã từ bỏ sứ vụ truyền giáo tại giáo xứ và ghế giáo sư chủng viện An Ninh để tìm về miền núi Phước Sơn, sáng lập dòng chiêm niệm Đức Bà Việt Nam cho người bản xứ vào ngày 15 tháng 8 năm 1918. Từ khi cha giáo Thuận mở lời xin phép lập dòng đến khi được đức cha Lý (Allys) chuẩn y phải trải qua thời gian dài chín năm thử thách.

Từ ơn linh hứng nguyên thủy, cha giáo Thuận đã sáng lập dòng chiêm niệm Đức Bà Việt Nam, đến năm 1933, Dòng Đức Bà Việt Nam được hội nhập vào Hội Dòng Xitô trên thế giới và trở thành Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam. Cho đến nay, Hội dòng đã hiện diện và tồn tại ngót 100 năm trên mảnh đất quê hương Việt Nam hình chữ S này.  

          1.2 Tinh thần và linh đạo của Cha Tổ Phụ khi lập dòng chiêm niệm

Đâu là tinh thần hay đặc sủng mà cha tổ phụ Biển Đức Thuận muốn con cái mình sống và thực hiện trong ơn gọi chiêm tu tại Giáo hội Việt Nam này? Có thể khẳng định rằng tinh thần và ơn linh nguyên thủy của cha tổ phụ được tóm tắt vào ba phần vụ chính, được ghi lại trong Di Ngôn, số 139. Trong đó ngài giáo huấn với con cái rằng: “Chúng ta đã biết, luật dòng này có ba việc phải làm”. Đó là:

Đọc kinh, hát lễ thay cho cả Hội thánh thờ phượng, ca ngợi Chúa.

Học hành xem sách thiêng liêng, suy gẫm, kết hiệp với Chúa.

Làm việc xác. Ở nhà dòng này phải làm việc, ai theo sức nấy.

Ba phần vụ này gồm tóm tất cả linh đạo của hội dòng Xitô Thánh Gia, nó diễn tả hoạt động thường ngày của một đan sĩ. Từ đời sống cầu nguyện chiêm niệm cho việc đến học hành và lao tác. Nói cách khác là ba phận vụ này được bao gồm trong hai đặc nét linh đạo của thánh Biển Đức (hay linh đạo Biển Đức – Xitô), đó là “ora et labora”. Hai đặc nét linh đạo này được cha tổ phụ áp dụng một cách cụ thể vào trong mọi khía cạnh cuộc sống thường ngày của đan sĩ.

Phần vụ thứ nhất là ora: cầu nguyện, đọc kinh hát lễ thay cho cả Hội thánh. Ora là hành vi thờ phượng. Cầu nguyện gồm có phụng vụ bí tích và phụng vụ đan tu. Phụng vụ bí tích gồm có Thánh lễ, chầu Thánh Thể, cử hành các bí tích. Phụng vụ đan tu gồm có các giờ Thần vụ và các việc đạo đức khác: cầu nguyện chung và cầu nguyện riêng, tâm nguyện và khẩu nguyện.

Ora, đọc kinh, cầu nguyện, chiêm niệm, thờ phượng Chúa là ưu tiên hàng đầu của cha tổ phụ. Vì ngay từ đầu, cha tổ phụ đã khao khát muốn sáng lập dòng nam chiêm niệm dành cho người Việt Nam. Tinh thần cầu nguyện, chiêm niệm được trải dài trong mọi sinh hoạt thường ngày của cuộc sống. Đặc biệt là trong phụng vụ và trong đời sống huynh đệ cộng đoàn. Vì thế, trong tinh thần của một gia đình, cha tổ phụ khuyên dạy con cái rằng: “nhà này mà không cầu nguyện thì hóa ra nhà nông phu” (DN 140).

Phận vụ tiếp theo là lao tác (labora). Lao tác gồm có lao động trí óc và lao động chân tay. Theo cha tổ phụ, lao động trí óc bao gồm các việc như: “học hành xem sách thiêng liêng, suy gẫm, kết hợp với Chúa”. Đây là phận vụ thứ hai của đan sĩ để nâng cao đời sống tri thức, đào sâu hiểu biết nhất là học hỏi Thánh Kinh (lectio divina) và các khoa học thánh. Có hiểu biết thì mới yêu mến, vì “vô tri, bất mộ”. Vì thế, lao động trí óc được cha tổ phụ coi trọng và quan tâm với mục đích đào luyện đan sĩ trở thành con người trưởng thành về nhân bản, tri thức và tâm linh. Qua lao động trí óc, đan sĩ tự đào luyện bản thân mình. Học để biết và yêu mến Chúa hơn và giúp người khác cũng biết Chúa và tìm gặp Chúa.

Phần vụ thứ ba là lao động chân tay, được cha tổ phụ gọi là “Làm việc xác, ai theo sức nấy”. Lao động là kéo dài đời sống cầu nguyện trong mọi sinh hoạt của cộng đoàn. Đồng thời lao động cũng là cộng tác vào trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Do đó, lao tác là việc bổn phận cần thiết và hữu ích, giúp đan sĩ thánh hóa bản thân cả phần hồn lẫn phần xác (x. DN 139). Vì đan viện cũng giống như một gia đình (DN 96; 97). Trong gia đình, cha con, anh em yêu thương nhau, giúp đỡ nhau trong mọi sự, nhất là trong mọi công việc của cộng đoàn. Việc xác cũng là việc Chúa Giêsu lấy làm cần, vì chính Ngài đã ra tay làm việc tại gia đình Nazareth. Ngài còn khẳng định rằng Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc (Ga 5, 17). Do đó, cha tổ phụ mong muốn con cái mỗi ngày phải làm được một việc chi thì mới thấy vui, mà ngày nào cũng có việc làm, cho nên vui luôn trong Chúa. Ngược lại, nếu ở nhưng không thì chỉ thêm buồn (x. DN 146). Mà buồn thì không thể phát huy ơn gọi, đôi khi còn mất ơn gọi nữa. Bởi vì không tìm được niềm vui trong Chúa thì không thể ở trong nhà dòng được.

Qua ba phận vụ trên, cha tổ phụ phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa nhà trường và nhà dòng. Nhà trường là nơi làm việc, mỗi người mỗi việc khác nhau tùy theo cấp độ. Cũng giống như xí nghiệp chỉ là nơi làm việc để kiếm tiền. Còn nhà dòng là “trường học phụng sự Chúa” (x. DN 140). Trong trường học phụng sự Chúa, mọi người từ trên xuống dưới đều có một mục đích và đều làm một việc như nhau đó là tìm Chúa và “tấn tới trong đàng kính mến Chúa, cùng làm cho nhiều người kính mến Chúa nữa” (DN 138). Đây cũng là sự kín nhiệm của thầy dòng chiêm niệm mà thế gian không hiểu được (x. DN 141). Tóm lại, cha tổ phụ đã sáng lập một hội dòng chuyên về chiêm niệm, cho người Việt Nam, theo văn hóa và nếp sống bình dân của người Việt Nam, để tham gia vào việc cứu rỗi các linh hồn chưa nhận biết Chúa bằng đời sống cầu nguyện hy sinh hãm mình (x. DN 0; 1; 2; 37, 62; 69; 79; 81; 118; 121; 128; 134...). Vậy là con cái của cha tổ phụ, đan sĩ Xitô hướng về tương lai theo tinh thần đấng sáng lập dòng như thế nào?

 

2. Đan sĩ Xitô nhìn vào thực tại để hướng về tương lai theo tinh thần cha tổ phụ

Con người đầu đội trời, chân đạp đất, vì thế phải đứng thẳng và bước đi với đôi chân. Bước đi hiện tại của con người phải cắm rễ sâu trong quá khứ, trong truyền thống và luôn hướng về tương lai. Do đó, không thể dừng lại ở quá khứ mà không bước tới tương lai, như thế là dậm chân tại chỗ, là tụt hậu, là lạc lõng bơ vơ. Cũng không thể hướng về tương lai rồi chối bỏ quá khứ, và không đặt nền trên hiện tại như thế là bật rễ, mất gốc và tha hóa. Ở trên chúng ta đã làm sống lại những đặc nét tinh thần và linh đạo của cha tổ phụ, vậy chúng ta sống tinh thần ấy như thế nào trong hiện tại và tương lai?

          2.1 Nhìn vào hiện tại

Nhìn vào hiện trạng các cộng đoàn trong Hội dòng, chúng ta mừng rỡ vì con số ơn gọi ngày càng gia tăng. Đặc biệt là số tu sĩ trẻ chiếm ¾ trên tổng số. Cho đến hôm nay, con cái cha tổ phụ trong hội dòng Xitô Thánh Gia kể cả nam và nữ đã vượt quá con số 1200 thành viên. Về cơ sở vật chất cũng được xây dựng và mở rộng thêm ở nhiều nơi, trong nước cũng như ngoài nước. Đó là những thành quả cụ thể đáng trân trọng và đáng mừng. Nhưng sự phát triển về cơ sở vật chất và về số lượng cũng đặt ra cho con cái cha tổ phụ những vấn đề cần phải suy nghĩ, nhất là về chất lượng ơn gọi. Quả vậy, nếu là người có tâm huyết về sự tồn vong và phát triển của Hội dòng, chúng ta sẽ nhận ra những vấn đề đáng quan ngại. Chẳng hạn như sự xuống cấp về đời tu nói chung và về chất lượng đào tạo ơn gọi trẻ nói riêng. Làm sao để huấn luyện các ơn gọi trẻ trở thành thầy dòng thật, thầy dòng thánh như ước nguyện của cha tổ phụ? Bởi vì ngày nay và trong tương lai sự tục hóa của xã hội đã và đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới não trạng và lối sống của tu sĩ nói chung và của đan sĩ nói riêng. Thực tế chúng ta ghi nhận có nhiều cộng đoàn và nhiều đan sĩ quá bận tâm về vật chất, về tự do cá nhân và về những thú tiêu khiển, khiến đan sĩ chỉ còn lệ thuộc vào những thú vui vật chất tầm thường. Đáng lo ngại hơn nữa là đan sĩ không còn bận tâm đến đời sống tâm linh chiêm niệm và bản chất thánh thiêng của ơn gọi thánh hiến đan tu.

Bên cạnh đó là môi trường thinh lặng thánh thiêng của đan viện và đời sống nội tâm cầu nguyện của đan sĩ cũng giảm sút và bị phá vỡ bởi những lôi kéo ồn ào, hấp dẫn của thế gian. Từ đó, đời sống cô tịch và lặng lẽ dễ dẫn đưa các đan sĩ đến sự nhàm chán, và hoạt động một cách vật vờ, không có nhiệt huyết. Đan sĩ coi việc bổn phận hằng ngày chỉ như là những công việc trần thế bình thường không có động năng thâm sâu tâm linh, nên cảm thấy mệt mỏi, chán trường, và đôi khi đưa đến những bệnh tật tâm lý khác nhau như: bất bình, bất mãn, bất an, bất thỏa, ù lì và có khi không còn chịu đựng nổi những áp lực xảy đến. Tuy nhiên nguồn gốc sâu xa của thảm kịch này hệ tại ở chỗ đời sống đức tin bị bào mòn và yếu dần, đôi khi tắt hẳn dẫn đến đời sống tu trì suy yếu và thoái hóa thành vụn vặt, nhỏ nhen, tầm thường. Nhất là khi đan sĩ phải đối diện với những khó khăn, hạn chế của bản thân, họ thất vọng với chính mình, bất mãn với thực tại của cộng đoàn, từ đó, đan sĩ sống trong những cám dỗ triền miên của lạc thú, của những nỗi buồn mông lung, mơ hồ và vô định.

Có thể nói trong tương lai không xa, tinh thần thế tục của xã hội sẽ tác động không nhỏ vào trong đời sống đan tu. Nó ẩn khuất đằng sau những vẻ tốt lành bên ngoài ngay cả trong việc giữ luật dòng nhưng thực chất là tìm vinh quang và sự thăng tiến cho bản thân chứ không phải vì lòng yêu mến Chúa và vì lợi ích các linh hồn. Nói theo ngôn ngữ của thánh Phaolô thì đây là một động cơ tinh vi để tìm “lợi ích riêng mình chứ không phải của Đức Kitô” (Ph 2,21). Một số người còn phát triển tinh thần thế tục bằng những hình thức khác nhau để thăng tiến bản thân. Còn thực chất công việc của họ không hóa thân vào trong căn tính của đời đan tu.

Thực trạng lớn nhất của xã hội hôm nay và nguy cơ cho tương lai là óc hưởng thụ, tìm kiếm khoái lạc xuất phát từ việc xã hội cung cấp nhiều hàng hóa và các dịch vụ rất đa dạng. Nhưng chủ nghĩa tiêu thụ cũng không thể lấp đầy những khoảng trống sâu thẳm tâm hồn của nhân loại. Bằng chứng là giới trẻ và đan sĩ trẻ lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, vì thấy cuộc đời phi lý và vô nghĩa. Nhiều người trẻ cẩm thấy mình chỉ đang “tồn tại”, chứ không phải đang “sống”. Cuộc sống dư thừa vật chất không thể thỏa mãn những nỗi buồn cá nhân, ngược lại nó còn là nguyên nhân tạo nên thói tự mãn, sự tham lam, tính ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Từ đó đưa đến sự cô đơn, cô lập giữa đám đông người... Đây cững là điều đức giáo hoàng Phaolô VI đã đã cảnh báo: “xã hội kỹ thuật có thể gia tăng những dịp cho lạc thú, nhưng rất khó tạo ra niềm vui[4]. Quả vậy, thế giới toàn cầu hóa, hiện đại hóa, điện tử hóa, truyền thông hóa, vật chất hóa và hưởng thụ hóa hôm nay đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Những trào lưu mới, những xa lộ thông tin, những cuộc khủng hoảng tinh thần và ý nghĩa cuộc sống khiến con người ngày nay kể cả đan sĩ đang rơi vào những con đường lầm lạc và bế tắc.

Trên đây là sự khủng hoảng, tha hóa và xuống cấp đáng lo ngại đang ảnh hưởng đến cá nhân đan sĩ và đời sống cộng đoàn đan tu trong hiện tại, và sẽ còn kéo dài trong tương lai nếu như mỗi đan sĩ không tự ý thức và điều chỉnh lại cho phù hợp với tinh thần chiêm tu của cha tổ phụ để hướng về tương lai.

          2.2 Hướng về tương lai

Làm sao để sống tinh thần chiêm tu của cha tổ phụ trong mọi chiều kích của đời sống đan tu chiêm niệm trong bối cảnh cụ thể của xã hội vàng thau lẫn lộn hôm nay? Ở trên chúng ta đã nhìn thẳng vào thực tại của Hội dòng và của xã hội. Giờ đây chúng ta phải định hướng tương lai để phát triển của Hội dòng theo tinh thần cha tổ phụ qua ba phận vụ chính mà chúng ta đã xác định ở trên.

Trước hết, đan sĩ phải trở về với phận vụ thứ nhất, đó là sống chiều kích cầu nguyện chiêm niệm (ora) giữa một xã hội ồn ào, sôi động và đầy biến động này. Cần tái tạo lại không gian và bầu khí cầu nguyện chiêm niệm thánh thiêng nơi mỗi cá nhân và cả cộng đoàn. Vì thế, không nên quá dễ dãi mở ra với xã hội bên ngoài, ngay cả những hoạt động mục vụ tông đồ ngoài giáo xứ. Vì những công việc đó về lâu về dài sẽ lôi kéo đan sĩ thích đi ra ngoài đan viện nhiều hơn là sống đời chiêm tu trong đan viện là “trường học phụng sự Chúa”. Cần phải xác định lại động cơ và mục đích của ơn gọi chiêm niệm theo tình thần cha tổ phụ đó là tìm Chúa và gặp Chúa qua cầu nguyện chiêm niệm, trong khung cảnh thanh vắng và cô tịch thánh thiêng của đan viện (x. DN 0; 7; 17; 21; 23; 27; 34; 35; 38; 44; 49; 60; 70; 76; 77; 79; 80; 98; 107; 108; 112; 118; 119; 127; 134; 135; 139; 142; 149. Do đó, về phía cộng đoàn, không thể nại vào bất cứ lý do nào để phá vỡ hay hủy hoại môi trường thinh lặng chiêm niệm đan tu của đan viện, nhất là bầu khí cầu nguyện (ora), kết hiệp với Chúa qua mọi sinh hoạt của ngày sống. Về phía cá nhân, cũng không được lấy bất cứ lý do gì để sống hay đi ra ngoài xã hội nhiều hơn là ở trong bầu khí đan tu, cầu nguyện chiêm niệm giữa cộng đoàn. Nhất là không được bỏ việc bổn phận cầu nguyện để chạy theo những công việc khác, dù là công việc tông đồ hay mục vụ. Bởi vì cha tổ phụ xác định rõ ràng phận vụ ưu tiên của đan sĩ là cầu nguyện: “Việc bổn phận của chúng ta là cầu nguyện và kết hiệp với Chúa. Đó là việc riêng của chúng ta” (DN 118). Cầu nguyện chính là sứ vụ của đan sĩ, đại diện cho toàn thể Hội thánh chúng tụng, tôn vinh, và tạ ơn Thiên Chúa thay cho toàn thể nhân loại (DN 37; 78; 79; 80; 118). Cầu nguyện cũng là cách để chứng tỏ lòng yêu thương anh em và lo cho phần rỗi các linh hồn (x. DN 78; 77; 112; 127). Đối với cha tổ phụ, một thầy dòng thật phải là con người cầu nguyện (x. DN 118; 135). Một đan sĩ mà bỏ đời sống phụng vụ và cầu nguyện thì cũng giống như con cá ở ngoài nước vậy (x. DN 50). Tắt một lời, đan sĩ Xitô Thánh Gia, cần ghi nhớ và thực hành những lời vàng ngọc này của cha tổ phụ, hôm nay và mãi mãi: “phần vụ của thầy dòng chúng ta không phải là hoạt động bên ngoài, nhưng là việc dâng lên Chúa bài ca chúc tụng liên lỷ”. Cha tổ phụ đáng kính còn khẳng định thêm rằng: “phước của đời chúng ta, là trở nên một loài chim, hót lên lời ca ngợi Chúa, theo gương Đức Mẹ, là con chim hót hay hơn cả” (DN 128).

Tiếp theo, đan sĩ cần trở về với phần vụ thứ hai (labora) mà cha tổ phụ đã khuyên dạy. Đó là lao động trí óc qua việc chăm chỉ học hành xem sách thiêng liêng, kết hợp với Chúa (x. DN 1; 37; 52; 111; 138; 146). Nói khác đi là phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhân bản, tri thức và tâm linh cho đan sĩ. Làm sao để đào tạo một đan sĩ trưởng thành về mọi mặt, nhất là trưởng thành nhân cách đời tu. Cha tổ phụ là một người say mê học hỏi và nghiên cứu. Dù là một cố Tây, nhưng khi sang Việt Nam, ngài đã dạy tiếng việt, văn chương và tu từ cho người Việt Nam. Là giáo sư tại chủng viện An Ninh, ngài rất quan tâm đến việc giáo dục và đào tạo ơn gọi. Theo gương cha tổ phụ, mỗi đan sĩ cần phải say mê học hỏi, nghiên cứu, trao dồi tri thức đạo cũng như đời (x. DN 1; 111; 139). Tóm lại, ít nhất có bốn lãnh vực đan sĩ cần được đào tạo và tự đào tạo mình để phát triển con người toàn diện của mình. Đó là trưởng thành về nhân bản; về đời sống thiêng liêng, hay tâm linh; về tri thức; và về mục vụ hay sứ vụ tông đồ theo đặc sủng riêng.

Vì thế, đối với cá nhân, mỗi đan sĩ phải tự đào luyện bản thân mình về mọi mặt để đạt mức độ trưởng thành về tâm thể lý, và tâm linh hay trưởng thành nhân cách đời sống thánh hiến…. Cha tổ phụ mời gọi con cái mình, ngày nào cũng phải tấn tới luôn (x. DN 146), có như vậy mới trở thành người hữu ích và là chứng nhân cho Chúa trong xã hội khoa học kỹ thuật hiện đại hôm nay (x. DN 44; 49; 52). Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội khoa học kỹ thuật siêu hiện đại này, đan sĩ cẫn có một tầm hiểu biết sâu rộng về mọi lãnh vực, để cùng chia sẻ, hiệp thông, vui, buồn, đồng hành cùng với Giáo hội và thế giới[5]. Nhất là trong lãnh vực đối thoại liên tôn và đại kết các tôn giáo, đan sĩ là người có nhiều điều kiện tốt để đi sâu vào lãnh vực này. Trong Tông thư năm đời sống thánh hiến, đức thánh cha Phanxicô cũng mời gọi tu sĩ hãy sống những đặc tính của mình là hãy: sống vui tươi, “ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui” [6];  sống đặc tính ngôn sứ để “đánh thức thế giới”[7]; trở nên những “chuyên viên hiệp thông[8]; ra “khỏi chính mình để đi tới những vùng ngoại ô của cuộc đời” [9] để thắp lên niềm hy vọng cho thế giới hôm nay.

Ở cấp độ hội dòng, cần phải có một chương trình đào tạo liên tục, xuyên suốt và đồng bộ: từ khi ứng sinh mới vào gõ cửa đan viện, đến các giai đoạn huấn luyện tập viện, kinh viện, triết học, thần học và chương trình thường huấn sau thần học kéo dài suốt cuộc đời đan sĩ trong đan viện. Bởi vì giáo dục là một tiến trình một sự nghiệp “trăm năm trồng người”, chứ không phải chỉ là một giai đoạn hay cắt xén vụn vặt. Do đó, bề trên và các vị hữu trách cần quan tâm nhiều hơn đến vấn đề đào tạo ơn gọi theo tinh thần đan tu chiêm niệm của cha tổ phụ.

Bên cạnh đó là cần có sự tuyển chọn, phân định và hướng dẫn các đan sĩ chọn đúng ơn gọi và khả năng chuyên môn, hay sở trưởng của mình, chứ không phải làm theo cảm tính nhất thời. Có như vậy đan sĩ mới có thể nhất tâm và nhiệt tâm phục vụ cộng đoàn và Giáo hội tốt hơn theo thánh ý Chúa và làm sinh lợi những nét bạc Chúa trao cho mỗi người…

Cuối cùng, đan sĩ cần thực hành phần vụ thứ ba mà cha tổ phụ mong muốn đó là làm việc xác, ai theo sức nấy. Vì mọi việc xác đều sinh ích lợi cho các linh hồn (x. DN 37; 39; 141). Vì thế, cha tổ phụ khuyên ai nấy đều phải lo khai phá rừng rú và canh tác đất đai (x. DN 39; 40; 41; 49; 68; 76). Lao động là thực hành đức ái đối với nhau qua việc phục vụ cộng đoàn và anh em một cách cụ thể, chứ không phải chỉ trên môi miệng. Thánh Giacôbê nói: “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Như vậy, lao động chính là hoa trái của đức tin được minh chứng qua hành động yêu thương phục vụ, cho đi chính thời gian và công sức của mình. Do đó, cha tổ phụ mời gọi mọi đan sĩ sống trong cộng đoàn như là anh em cùng lao động chung với nhau (x. DN 46). Ngay cả anh em đau ốm cũng có việc để làm, đó là lo cầu nguyện cho cộng đoàn, cho các linh hồn (DN 127). Nghĩa là lao động và cầu nguyện không tách rời nhau. Dù khỏe mạnh hay đau ốm, dù làm bất cứ công việc gì, thầy dòng vẫn sống trong tâm tình cầu nguyện, tạ ơn không ngừng (DN 39; 74).

Đối với cha tổ phụ, lao động không những là bổn phận hằng ngày để tạo ra của cải nuôi sống bản thân (DN 37; 46; 92), mà còn là một sứ vụ tông đồ ẩn dật của đan sĩ qua các việc đạo đức hằng ngày để cầu nguyện cho các linh hồn (x. DN, 0; 41; 65; 78; 79/2; 106; 121; 127; 135; 141). Vì thế, trong Hiến pháp, cha tổ phụ xác định rõ ràng sứ mạng của đan sĩ là“theo gương Chúa Cứu Thế, các tu sĩ lao động như những người nghèo. Sống cuộc sống trong cảnh nghèo để đền tội, để tỏa hương của Chúa Kitô, và để có khả năng dùng phần dư mà giúp đỡ những người hoạt động cho phần rỗi của những người chưa nhận biết Chúa” (HP I, 165; DN 106). Do đó, sứ vụ tông đồ của hội dòng Xitô Thánh Gia còn được thể hiện qua việc đón tiếp khách, giúp khách tĩnh tâm và cầu nguyện cho những người chưa nhận Biết Chúa (x. DN 132; 140; 143).

Như vậy, lao động là phục vụ theo gương Chúa Giêsu, đồng thời cũng nói lên tình yêu thương huynh đệ trong cộng đoàn, chia sẻ gánh nặng cho nhau, tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và trợ giúp cho việc truyền giáo (x. DN 106). Do đó, việc xác sản sinh những hoa trái tốt lành đối với Thiên Chúa và đối với anh em. Không những thế, việc xác cũng chính là yếu tố nền tảng của đời sống hy sinh hãm mình, ham chịu sỉ nhục vì danh Chúa Kitô của đan sĩ. Cha tổ phụ khẳng định điều đó: “Lao động chân tay là cốt yếu của đời sống hãm mình. Bởi đó hễ mạnh khỏe, dù ở chức vụ nào, ai cũng phải tham gia” (DN 92).

Lao động còn là cách để đan sĩ giữ luật và chu toàn lề luật (x. DN 32; 37; 38-41; 45; 49; 61; 70; 71). Giờ nào có việc nấy: “có giờ đọc kinh, giờ làm việc”, nghĩa là hằng làm việc cho Chúa, để không làm hư mất ngày giờ của Chúa (x. DN 35). Do đó, đan sĩ cần lao động trong tình thần cầu nguyện và phó thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa (x. DN 41; 54; 69). Tuy nhiên, cũng không nên quá ham mê công việc mà bỏ quên Chúa (x. DN 78; 113; 114; 129). Bởi vì tất cả mọi sự đan sĩ làm đều vì vinh danh Chúa (x. DN 35). Nói khác đi, lao động chính là cộng tác và tiếp nối công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Chúa ban cho đan sĩ óc sáng tạo và khả năng để với công sức của mình, đan sĩ gìn giữ, bảo tồn và phát triển công trình sáng tạo và quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa.

Tóm lại, cả ba phận vụ chúng ta vừa trình bày trên đây (cầu nguyện, lao động trí óc, lao động chân tay), liên kết và bổ túc chặt chẽ cho nhau để hình thành lên nhân cách đích thực của thầy dòng chiêm niệm mọi thời, mọi nơi. Vì thế, đan sĩ không được coi nhẹ hay bỏ qua một phận vụ nào. Trái lại cần sống và thực hành đồng bộ cả ba trong bối cảnh xã hội Việt Nam hôm nay.

 

Kết luận

Quá khứ, hiện tại và tương lai là những mốc điểm thời gian của con người, còn đối với Thiên Chúa chỉ có hiện tại. Bởi vì, với Chúa: “một ngày như thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2Pr 3,8). Do đó, dù thời gian có trôi qua, dù xã hội có thay đổi, dù cuộc sống cần phải thích nghi thì đan sĩ Xitô Thánh Gia cũng không được bỏ quên hay thay thế ba phần vụ chính mà khi lập dòng cha tổ phụ đã phác họa cho con cái mình thực hành hôm qua, hôm nay và ngày mai. Nếu chu toàn tốt ba phận vụ này trong bối cảnh xã hội cụ thể thì cũng có nghĩa là đan sĩ đã sống đúng với phương châm hay với linh đạo “Ora et Labara” của cha thánh Biển Đức. Sống được như vậy là đã chu toàn luật Chúa, luật dòng và như vậy đan sĩ trở thành một thày dòng thật, thầy dòng thánh trong mọi hoản cảnh xã hội đổi thay, hôm nay, tương lai và mãi mãi.

 

Như vậy, trở về với linh đạo hay tinh thần của cha tổ phụ chính là trở nên những “thầy dòng đích thực”, những “đan sĩ thánh thiện”, mà muốn nên thầy dòng thánh thì phải tuân giữ luật dòng, đó là điều cha tổ phụ nhắc đi nhắc lại ba lần trong lời trối: “Cha khuyên các con hãy nhớ: đàng nhân đức là tuân theo thánh ý Chúa, mà thánh ý Chúa là tuân giữ luật dòng cho trọn. Cha còn nói một lần nữa, chúng con muốn nên thánh thì hãy giữ luật dòng; muốn nên thánh thì hãy giữ luật dòng” (DN, số 150: Lời Trối).

Tóm lại, đan sĩ hướng tới tương lai theo tinh thần cha tổ phụ là sống và thực hành triệt để ba phận vụ mà cha tổ phụ đáng kính đã khuyên dạy con cái mình. Ba phần vụ này cũng chính là đặc nét linh đạo của Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam.

 

Sách tham khảo:

  1. Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng, Kinh Thánh, Cựu và Tân Ước,
  2. Công đồng Vatican II, hiến chế Gaudium et Spes.
  3. Đức Giáo Hoàng Phao lô VI, Tông thư Gaudete in Domino,
  4. Hạnh tích cha Benoit, R.P Henris Denis Cố Thuận, tổ phụ hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam.
  5. Di Ngôn cha Biển Đức Thuận, sáng lập hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam.
  6. Tuyên Ngôn và Hiến Pháp Hội Dòng Xitô Thánh Gia.
  7. Đức giáo hoàng Phanxicô, Tông thư năm đời sống thánh hiến, 11. 2014.

 

Chú thích:

[1] Hạnh tích cha Benoit, R.P Henris Denis Cố Thuận, tổ phụ hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam, tr. 103.

[2] Hạnh tích cha Benoit, tr. 104.

[3] Hạnh Tích cha Benoit, tr. 105.

[4] Đức Giáo Hoàng Phao lô VI, Tông thư Gaudete in Domino, số 297.

[5] X. Công đồng Vatican II, Gaudium et Spes, số 1.

[6] Đức thánh cha Phanxicô, Tông thư năm đời sống thánh hiến, số 1

[7] Đức thánh cha Phanxicô, Tông thư năm đời sống thánh hiến, số 2

[8] Đức thánh cha Phanxicô, Tông thư năm đời sống thánh hiến, số 3

[9] Đức thánh cha Phanxicô, Tông thư năm đời sống thánh hiến, số 4