Suy Niệm Hằng Ngày

Đọc và suy niệm Tin Mừng TUẦN IV MÙA CHAY, 2018 (Hiền Lâm)

Tình yêu Thiên Chúa dành cho thế gian không phải để luận phạt mà là để cứu độ.

 

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, B Hình ảnh có liên quan

 

THỨ HAI TUẦN IV MÙA CHAY

 

THỨ BA TUẦN IV MÙA CHAY

 

THỨ TƯ TUẦN IV MÙA CHAY

 

THỨ NĂM TUẦN IV MÙA CHAY

 

THỨ SÁU TUẦN IV MÙA CHAY

 

THỨ BẢY TUẦN IV MÙA CHAY

 

Các bài suy niệm: Hiền Lâm



 

 

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, năm B
CHÚA NHẬT LETARE

 

+ ĐỌC TIN MỪNG: Ga 3,14-21

Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa."

 

+ SUY NIỆM

“GIƯƠNG CAO LÊN

Triết học cổ đại Hi-lạp, đặc biệt Socrate, Platon và Aristote, thường sử dụng lối văn đối thoại để chuyển tải tư tưởng. Tin Mừng Gioan cũng từng sử dụng lối văn đối thoại này, khi kể lại cuộc trò chuyện giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô, hầu chuyển tải ý nghĩa về ơn cứu độ.

Trong câu chuyện đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô được Tin Mừng tường thuật hôm nay, Chúa Giêsu xác định thập giá mà Người phải chịu treo lên để hết thảy những ai tin vào Người sẽ được cứu độ, đồng thời khẳng định tình yêu Thiên Chúa dành cho thế gian không phải để luận phạt mà là để cứu thế gian.

 

* Con Người sẽ phải được giương cao lên…

Điều Chúa Giêsu mặc khải thật rõ ràng: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”.

Có lẽ đây là nét độc đáo nhất chỉ gặp thấy nơi Tin Mừng Gioan, con đường linh đạo này có một mức độ quyết liệt hơn, vì trong khi 3 Tin Mừng Nhất Lãm nói đến việc muốn đạt đến Ơn Cứu Độ phải vác lấy thập giá, còn đối với Tin Mừng thứ Gioan đòi phải được “giương cao lên” nghĩa là không chỉ vác mà còn phải bị treo lên, chịu đóng đinh vào khổ giá.

Khác với ba lần nơi các Tin Mừng Nhất Lãm tiên báo cái chết một cách rõ ràng là Chúa Giêsu sẽ lên Giêrusalem chịu khổ nạn, thì Tin Mừng Gioan cũng tiên báo ba lần với cách nói: “Con Người được “giương cao lên” (x.Ga 3,14; 8,28; 12,32).

Con Người được giương cao lên, nghĩa là Chúa Giêsu sẽ phải bị treo lên trên thập giá, để nhờ công ơn Cứu Chuộc qua khổ giá, mà Người nâng mọi người lên cao khỏi thế gian, nâng cao lên cõi Trời với Người.

Theo chiều ngang, với cách nói nơi Tin Mừng Nhất Lãm rằng ai muốn theo Chúa thì hãy bỏ mình, vác thập giá mà theo. Còn theo chiều dọc, Tin Mừng Gioan lại nói theo chiều đi lên, không chỉ vác mà còn phải được treo lên, nghĩa là phải cùng đóng đinh chính mình vào thập giá như Chúa Giêsu.

Như vậy, dù “đi theo” hay “treo lên”, thì Kitô hữu cũng chung một phương thế duy nhất là phải qua thập giá mới đạt đến Ơn Cứu Độ.

 

* Để thế gian được cứu độ…

Trong cách nhìn nhân loại, ai trong chúng ta nếu chỉ có một đứa con trai duy nhất, thì chúng ta sẽ coi nó như là tất cả của đời mình, của cả cuộc sống mình, của cả giống nòi mình, nên chúng ta sẽ hết sức cung phụng nâng niu, bằng mọi giá phải bảo vệ nó, và chỉ chấp nhận san sẻ khi cho đứa con xây dựng gia đình với một người con gái để duy trì dòng tộc. 

Trong mầu nhiệm Thiên Chúa, Chúa Cha đã đản sinh ra Chúa Con, và Chúa Con là đứa Con Duy Nhất của Chúa Cha từ đời đời. Nhiều lần Chúa Giêsu trong lời cầu nguyện đã thân thưa rằng: Con yêu Cha và như Cha đã yêu Con… Và vì yêu thương con người, Chúa Cha đã cho đứa Con Duy Nhất của mình đến với thế gian. Trong ý nghĩa này, chúng ta có thể hiểu được “văn Chương Gioan” coi Chúa Giêsu như là Tân Lang và Giáo Hội là hiền thê của Người, bởi Chúa Giê-su qua công trình cứu chuộc đã cưới “cô dâu nhân loại” về cho Thiên Chúa Cha.

Nhân loại là con Thiên Chúa theo nghĩa sáng tạo, chứ không theo tử hệ đản sinh như Chúa Con. Nhân loại đó đã ra hư hỏng, nên Chúa Cha đã sai Con mình đến để cứu chứ không phải đến để phạt.

“Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ". Thật vậy, sứ mạng thiên sai của Chúa Giêsu đến là để dùng thập giá mà cứu chuộc thế gian. Đó là niềm hy vọng lớn lao của nhân loại. 

Giống như hai người con, một người lo làm việc vì yêu thương bố, một người bất đắc dĩ phải làm cho bố vì sợ bố đánh, dẫn đến một bên đạt được niềm vui nhẹ nhàng còn người kia cảm thấy nặng nề chán nản. Cũng thế, khi đón nhận thánh giá Chúa vì niềm tin vào Ơn Cứu Độ thì thánh giá sẽ trở nên nhẹ nhàng và con người vui vẻ vác đi theo Chúa; ngược lại, nếu ai vác thánh giá vì sợ luận phạt thì thánh giá sẽ nên nặng nề và tuyệt vọng. 

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết chấp nhận được giương cao lên, là chấp nhận đóng con người tội lỗi của mình vào thập giá Chúa, để sau khi chết đi cho tội lỗi, chúng con được trở nên con người mới. Xin cho chúng con cũng biết “giương cao lên” là vượt lên trên mọi sự thấp hèn xấu xa của thế gian, để sống cho Chúa và cho mọi người. Amen.

 

 

THỨ HAI TUẦN IV MÙA CHAY 

 

+ ĐỌC TIN MỪNG: Ga 4,46-54

Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. Đức Giê-su nói với ông: "Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu! " Viên sĩ quan nói: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất! "Đức Giê-su bảo: "Ông cứ về đi, con ông sống." Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: "Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt." Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình: "Con ông sống", nên ông và cả nhà đều tin. Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.

 

+ SUY NIỆM

Bài Tin Mừng hôm nay kể về một trường hợp chữa bệnh khá đặc biệt của Chúa Giêsu, khác hẳn với cách thông thường Người vẫn làm. Nghĩa là thay vì phải có một sự đụng chạm trực tiếp với bệnh nhân, thì hôm nay Chúa chữa bệnh từ xa, chữa bệnh không phải vì niềm tin của bênh nhân mà vì niềm tin và trái tim yêu thương của người cha bệnh nhân. Chúa Giêsu không đụng chạm đến thân thể bệnh nhân, nhưng đụng chạm vào tấm lòng và yêu thương của người thân của họ. 

Một niềm tin đích thực không cần một sự nhìn thấy tỏ tường, vì như thế không còn là tin nữa, mà là bất đắc dĩ chấp nhận một chuyện đã xảy ra rồi. Chúa Giêsu cũng đã khẳng định điều đó sau lời cầu xin của viên sĩ quan đến xin Người chữa lành cho con trai mình:

“Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu!" Tuy nhiên, với thái độ khiêm tốn và tin tưởng của viên sĩ quan, cho thấy ông đã không thuộc thực trạng chung với những người tin dựa theo dấu lạ.

Xét về thế giá và địa vị, viên sĩ quan này có quyền lực về mặt chính trị, ông còn có quyền bắt, trục xuất hoặc ngăn cấm Chúa Giêsu truyền đạo, ông sẽ tin tưởng vào quyền lợi vật chất và khoa học hơn là niềm tin. Thế nhưng, ông nhận ra nơi con người Chúa Giêsu không đơn thuần là một thầy dạy như các kinh sư, mà là một vị ngôn sứ của Thiên Chúa, ông đã hạ mình đến cầu xin Người. Lại nữa, vì tấm lòng của một người cha thương đứa con bệnh tật, ông không ngại vượt qua rào cản của ý thức hệ và chính trị, để chạy đến với Chúa Giêsu.

Nhưng hơn hết, ông tin vì ông nghe Lời Chúa Giêsu bảo: “Ông về đi, con ông sống”, chứ ông không đòi dấu lạ rõ ràng, nên niềm tin đó đã chữa lành cho con ông.

Còn chúng ta, đứng trước những khó khăn, đau khổ, bệnh tật… chúng ta có đặt niềm tin đủ vào Chúa để xin Ngài trợ lực không, hay là ỷ lại vào sức mình? Ước gì sau khi đọc bài Tin Mừng này, mọi người chúng ta xác tín hơn vào sự quan phòng của Chúa, để trong khi chúng ta ra sức đương đầu với những khó khăn và đau khổ của cuộc sống, biết chạy đến Chúa để được Ngài soi sáng và ban ơn trợ lực. Và trên hết, hãy tin tưởng và cầu xin Chúa chữa lành bệnh tật nơi tâm hồn chúng ta.

 

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin nhưng xin Ngài nâng đỡ niềm tin còn yếu kém của chúng con. Amen.

 

 

THỨ BA TUẦN IV MÙA CHAY

 

+ ĐỌC TIN MỪNG: Ga 5,1-3a.5-16

Nhân dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang. Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt ở đ. Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói: "Anh có muốn khỏi bệnh không? " Bệnh nhân đáp: "Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi! " Đức Giê-su bảo: "Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi! " Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được. Hôm đó lại là ngày sa-bát. Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh: "Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng! " Nhưng anh đáp: "Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi: "Anh hãy vác chõng mà đi! " Họ hỏi anh: "Ai là người đã bảo anh: "Vác chõng mà đi"? " Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói: "Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước! " Anh ta đi nói với người Do-thái: Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh. Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.

 

+ SUY NIỆM

Hôm nay, tiếp tục hành trình tại Giêrusalem, Chúa Giêsu chữa bệnh cho một người bất toại đã 38 năm nằm ở bờ hồ Bết-da-tha. Sự việc lại bị các biệt phái công kích khi thấy người được chữa lành vác chõng đi về trong ngày Sabát. Qua câu chuyện Tin Mừng ghi lại hôm nay, chúng ta cùng suy niệm một vài điểm sau đây:


* Tình trạng của con bệnh.

Ở đây chúng ta không bàn luận liệu có tồn tại một hồ nước có khả năng thần kỳ chữa bệnh mỗi ngày một lần cho người xuống trước hay không? Nhưng với cách tường thuật có tính biểu tượng của Tin Mừng thứ tư, chúng ta nhận thấy có một tình trạng bệnh tật của một con người đã kéo dài gần bốn chục năm, không được cứu chữa, do tự mình không đủ sức để xuống hồ trước và còn thê thảm hơn khi không ai giúp anh ta xuống hồ để được chữa lành (x.Ga 5,7).

Cho đến một ngày kia, Chúa Giêsu đi qua, Người cảm thông với tình trạng của anh mà chữa lành cho anh, dù anh chưa kịp xin Người.

Như vậy:

38 năm bị giam hãm trong cơn bệnh, người bất toại cố dùng đến sức mình nhưng đã thất bại, và chính sự lãnh đạm của mọi người không giúp anh cũng làm cho tình trạng của anh vô phương cứu chữa, cho tới ngày anh gặp Chúa Giêsu, anh nói lên tình trạng bất lực của mình, và Chúa đã cứu anh.

Đó cũng là tình trạng của nhiều tâm hồn, ở lâu trong tội, để rồi tự mình không thể đứng lên trở về với Chúa, càng tồi tệ hơn là những người anh chị em trong cùng đức tin đã không làm gì để giúp nhau hoán cải. Chỉ đến khi mở lòng ra, nói hết tình trạng khốn khổ của mình, để cho Chúa đi qua cuộc đời mình, thì Chúa sẽ giúp chúng ta đứng lên.


* Vấn đề ngày sa-bát.

Theo Biệt Phái – Pharisiêu, bộ luật dành cho Do Thái dạy phải kiêng việc xác ngày Sa-bát cách triệt để theo mặt chữ, nếu ngày đó có ai đó chỉ cần đi lượm vài nhánh củi về để đun bếp nướng bánh cũng phải bị xử ném đá chết, ngay cả đường đi cũng có một số con đường bị cấm không được đi vào ngày sa-bát.

Luật đối với họ sẵn sàng ném đá chết một người lượm củi nấu ăn, không dám đi đường cấm dù cấp bách liên quan đến sự sống cần cấp cứu. Họ coi việc giữ những điều lặt vặt hơn là mạng sống của một con người. Hằng ngày trong suốt 38 năm người Do Thái vẫn đi trên bờ hồ Bết-da-tha và người bị bất toại vẫn nằm ở đó, nhưng họ không thấy, và vì sợ phạm luật Sa-bát chăng. Chúa Giêsu biết họ đang rình mò tìm kế hại Người, nhưng Người vẫn không ngần ngại chữa lành cho người bị bất toại, vì đối với Người luật yêu thương bác ái vượt trên tất cả mọi của lễ mà họ dâng. Thế nhưng, họ đã không chịu nhận ra mà còn giận điên lên và bàn nhau tìm cơ hội khác để giết Chúa Giêsu.

Chúng ta có nhân danh ngày nghỉ, lấy cớ việc đi lễ… để rồi không đếm xỉa đến những người gặp hoạn nạn đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết ý thức tình tương thân tương ái trong Chúa mà sẵn sàng giúp đỡ tha nhân bỏ đường tội lỗi trở về với Chúa. Amen.

 

 

THỨ TƯ TUẦN IV MÙA CHAY

 

+ ĐỌC TIN MỪNG: Ga 5,17-30

Đức Giê-su nói: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc." Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.

Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng: "Thật, tôi bảo thật các ông: người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý. Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống. Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người.Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.

 

+ SUY NIỆM

Bài Tin Mừng hôm nay mở đầu bằng việc nói về người Do Thái muốn giết Đức Giêsu và cái tội không giữ luật Sa-bát và dám gọi Thiên Chúa là Cha mình. Kế đến, là diễn từ về công việc của Đức Giêsu là làm điều Chúa Cha làm và theo ý Chúa Cha muốn.

 

* Sự đối lập giữa Chúa Giêsu và người Do Thái.

Sự đối lập giữa những người Do Thái ở thủ đô với Chúa Giêsu luôn là đề tài nóng trong cả bốn Tin Mừng. Cũng như ánh sáng không thể chung với bóng tối, bởi ánh sáng sẽ làm tỏ lộ ra tất cả những gì khuất tất. Chúa Giêsu là Ánh Sáng và Sự Thật. Sự xuất hiện của Người tại Giêrusalem đã làm phơi bày ra sự giả hình, ham mê quyền lực và trục lợi của các kinh sư – biệt phái và nhất là giới cầm quyền Do Thái. Chính vì thế mà họ đã tìm cách tẩy chay Chúa Giêsu, tiếc là họ không có lý do đủ mạnh ngoài việc bám víu vào luật Sa-bát, nhưng ngay cả luật này họ cũng bị Chúa Giêsu vạch trần những điều khoản tỉ mỉ do họ thêm vào mà sai lệch ý Thiên Chúa. Điều mà Chúa Giêsu khẳng định, tất cả việc Người làm là theo ý Thiên Chúa Cha.

Chúa Giêsu là Ánh Sáng thuần khiết từ Thiên Chúa đi vào tấm lòng đồng trinh thuần khiết của Mẹ Maria. Vì thế mà mẹ đã cưu mang Ngôi Lời mà vẫn đồng trinh, tựa như ánh mặt trời chiếu qua tấm kính trong tinh khiết vào căn phòng rực ánh sáng mà tấm gương không bị ảnh hưởng. Trong khi, ánh sáng ấy chiếu đến sự mục nát xấu xa của giới chức Do Thái đã làm rõ ý đồ đen tối của họ, vì họ như tấm gương bám đầy bụi bẩn trần tục không thể tiếp nhận ánh sáng cho dân chúng, mà còn tìm mọi cách để che khuất và khử trừ Ánh Sáng.

Mọi người chúng ta ngày hôm nay cũng thế, khi chúng ta có tội hay đang theo đuổi những công việc mờ ám, thì chúng ta rất sợ đối diện với sự thật, và tìm cách diệt khẩu những ai có thể làm ý đồ và công việc chúng ta bị phơi bày.

 

* Làm theo ý Thiên Chúa.

Khác với chúng ta, trong mầu nhiệm Ba Ngôi, Chúa Giêsu có tri thức hưởng kiến và thấu rõ chương trình của Thiên Chúa Cha muốn thực hiện nơi Người. Như Người nói: “Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý” (Ga 5,19-21).

Như vậy, hai công việc mà Chúa Giêsu hằng làm như Chúa Cha làm chính là: Chúa Cha yêu thương thế nào thì Chúa Con yêu thương như vậy, và Chúa Cha cho kẻ chết sống lại thế nào thì Chúa Con cũng phục sinh ai Người muốn. Chính hai điều này mà Chúa Giêsu không ngại vượt qua những quy định thêm vào khắt khe của Biệt Phái về luật Sa-bát, Người dùng luật yêu thương để cứu chữa bệnh tật thân xác và phục sinh tâm hồn cho những ai tin vào Người: “Ai nghe lời Tôi và tin vào Đấng đã sai Tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống” (ga 5,24). Còn những ai không tin vào Chúa Giêsu như những người Biệt Phái kia thì tự loại mình ra, bởi: “Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con” (Ga 5,23).

Như vậy, mọi người chúng ta hôm nay muốn làm theo ý Chúa Cha là khi chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô và sống luật yêu thương vượt trên tất cả mọi sự ràng buộc khác.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin chiếu Ánh Sáng Chúa vào tận nơi sâu thẳm của tâm hồn chúng con, để thánh hóa mọi bí ẩn tâm can và làm cho tâm hồn chúng con được sáng, hầu chúng con sống trọn vẹn giới luật yêu thương của Chúa. Amen.

 

 

THỨ NĂM TUẦN IV MÙA CHAY

 

+ ĐỌC TIN MỪNG: Ga 5,31-47

Đức Giê-su nói với người Do-thái: “Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật. Có Đấng khác làm chứng về tôi, và tôi biết: lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật. Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật. Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ. Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian. Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi. Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người. Các ông đã không để cho lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến. Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi. Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống.

Tôi không cần người đời tôn vinh. Nhưng tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận. Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?

Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các ông tin cậy. Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi. Nhưng nếu điều ông ấy viết mà các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói? "

 

+ SUY NIỆM

Để hiểu biết về thế giới hay về con người, chúng ta có thể tích lũy sự hiểu biết một phần nhờ lý trí và khoa học, nhưng thường hơn nhờ lời chứng của người khác đã ảnh hưởng và dẫn dắt chúng ta, nhờ những gương sống, lời nói và việc làm của họ. Lời chứng có tính thuyết phục hơn không dựa trên tự mình làm chứng cho mình, nhưng nhờ đến uy tín của người làm chứng. Người càng uy tín, thì lời chứng của họ về một ai đó sẽ thuyết phục và xác thực hơn.

Bài Tin Mừng hôm nay xoay quanh chủ đề Lời Chứng. Chúa Giêsu khẳng định Người không cần làm chứng về mình, nhưng có lời chứng từ Chúa Cha và những gì ghi trong Thánh Kinh cũng như các sứ ngôn làm chứng cho Người.

 

* Lời chứng từ Chúa Cha.

Nói đến Lời Chứng từ Chúa Cha, trong Tin Mừng Nhất Lãm, chúng ta gặp thấy ít nhất hai lần là khi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa tại sông Giođan và lúc Người biến hình trên núi Tabo. Nhưng trong Tin Mừng Gioan có lẽ chỉ nói tới một lần nhãn tiền Chúa Cha phán vọng xuống rằng: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!" (Ga 12,28). Tuy nhiên, ở đây Chúa Giêsu giải thích Lời Chứng của Chúa Cha tức là việc Chúa Cha sai phái Chúa Con thực thi việc Cứu Độ, và việc đó đã được chứng nhận qua bao dấu lạ Người làm. “Thật vậy, Chúa Cha yêu thương thế nào thì Chúa Con yêu thương thế ấy, Chúa Cha ban sự sống thế nào thì Chúa Con cũng ban sự sống cho những ai Người muốn… Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào thì Chúa Con cũng vậy” (x.Ga 5, 20-21.26tt). Chính sự việc được xảy ra theo lời Chúa Giêsu là do Người thực hiện theo ý Chúa Cha và Chúa Cha đã làm cho việc đó xảy ra.

 

* Những lời chứng khác.

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc đến Môisê, Gioan Tẩy Giả và Thánh Kinh đều viết về Người, dù Chúa không cần đến những chứng cớ ấy, nhưng đó lại chính là cái mà người Do Thái tìm kiếm Đấng Messia. Tiếc là sự tìm kiếm của họ chỉ nhằm thỏa mãn theo ý họ, họ tìm những gì Thánh Kinh nói đến một Đức Kitô hiển hách theo kiểu người phàm; còn nếu có tìm kiếm một Đấng Messia như Thánh Kinh loan báo, thì họ cũng chỉ dừng lại ở những gì nói đến sự hiển thắng mà không quan tâm đến con đường khổ giá để đạt đến sự hiển thắng. Chính vì vậy mà họ không thể chấp nhận và không thể tin vào Đấng đã đến và đang nói với họ. Cho nên, Chúa Giêsu đã phải nói với họ rằng: “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi. Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống… Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các ông tin cậy. Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi. Nhưng nếu điều ông ấy viết mà các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói?" (Ga 5,39-40.46-47).

 

Một số người cho rằng bởi vì Thánh Kinh là Lời Chúa rồi nên họ đâu cần gì khác để hướng dẫn họ. Thế nhưng, cũng như Thiên Chúa đã nói qua các biến cố và qua các ngôn sứ, thì người cũng sẽ tiếp tục nói với chúng ta qua các biến cố thời sự và qua các vị hướng dẫn trong Giáo Hội nhờ Thần Khí. Vì thế, Chúa Giêsu tố giác những ai nghĩ họ đã nắm toàn bộ chân lý chỉ vì họ có cuốn Thánh Kinh, chứ không tin vào Người là Đấng Chúa Cha sai đến vẫn hằng ngày ở với họ.

Nhưng làm sao để phân biệt đâu là lời chứng thật? Chúa Giêsu dạy muốn nhận ra ai là sứ giả của Thiên Chúa, chúng ta không được giống như kẻ tự tôn vinh mình hay tôn vinh lẫn nhau (Ga 5,44) mà vì thế trở thành nô lệ cho những giá trị hữu danh vô thực; người sứ giả của Thiên Chúa không nhằm tìm vinh quang cho mình, nhưng tìm tôn vinh Thiên Chúa.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn là chứng nhân cho sự hiện diện của Chúa mọi nơi mọi lúc. Và xin cũng cho chúng con chỉ biết tìm vinh quang cho Chúa chứ đừng tự tôn vinh mình. Amen.

 

 

THỨ SÁU TUẦN IV MÙA CHAY

 

+ ĐỌC TIN MỪNG: Ga 7,1-2.10.25-30

Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.

Lễ Lều của người Do-thái gần tới. Tuy nhiên, khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật. Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói: "Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao? Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô? Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả." Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng: "Các ông biết tôi ư? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi."

Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.

 

+ SUY NIỆM

Bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta tập chú suy niệm về việc nhận biết Chúa Giêsu như thế nào cho đúng với bản tính tự hữu của Người. Người là một Thiên Chúa đồng bản thể với Chúa Cha từ đời đời, hay chỉ là một con người Giêsu bình thường xuất thân từ làng Nazareth như cách biết của nhóm lãnh đạo Do Thái.

 

* Biết Đức Giêsu là ai?

Biết Đức Giêsu là ai là điều cốt yếu đối với chúng ta, vì điều mà Người ban tặng cho chúng ta là vô giá: đó là được thông phần sự sống của Thiên Chúa. Nhưng nếu Đức Giêsu không đến từ Thiên Chúa và không là Thiên Chúa thì lời hứa đó chẳng có giá trị gì. Chính vì vậy mà phải khám phá ra cho được Đức Giêsu là ai, vì nhờ đó mà chúng ta tìm thấy ơn cứu độ.

“Chúng tôi biết ông xuất thân từ đâu” (Ga 7,27). Những người Do Thái này tưởng mình biết Thánh Kinh, nhưng Thánh Kinh lại có trăm ngàn chỗ vượt quá trí hiểu của chúng ta nếu chúng ta không biết lắng nghe. Trước mặt họ, Chúa Giêsu tự xưng mình là Đấng Thiên Sai. Người dùng tước hiệu này không phải để gây sự nể nang, nhưng là để làm nổi bật đặc tính của Người là liên hệ với Chúa Cha đồng thời biết rõ Chúa Cha (x. chú giải của nhóm CGKPV).

Thật ra, chỉ vì người Do Thái chỉ tìm những đoạn Thánh Kinh có lợi cho họ, họ tìm những gì mang tính siêu việt và vẽ ra một Đấng Cứu Thế phải thoả mãn tham vọng của họ, nên họ cố tình bỏ qua những lời Thánh Kinh tiên báo về nơi sinh hạ, cũng như những gì các ngôn sứ viết về người tôi tớ đau khổ của Gia-vê.

Thời nào cũng thế, con người vẫn muốn đi tìm một Thiên Chúa theo ý mình, nên họ khó lòng chấp nhận một Đức Giêsu vác khổ giá đồng hành với họ.

 

* Biết và yêu.

Tôi biết anh A chị B, nhưng chắc gì chúng ta đã yêu mến họ, tôi tin có ông này bà nọ hiện hữu, nhưng chắc gì tôi yêu thích họ và tìm đến gặp họ?

Cũng vậy, người Do Thái biết rất rõ về nguồn gốc nhân loại của Chúa Giêsu sinh ra ở đâu, con cháu ai và làm nghề gì, và họ rất thông thạo Thánh Kinh nói về Người, nhưng họ không tin và không yêu mến… Ma quỷ cũng biết Chúa Giêsu vậy, thậm chí biết rõ hơn chúng ta nhiều, nhưng ma quỷ đâu có yêu mến Người.

Chúng ta cũng cần tự vấn về mình, chúng ta vẫn cho rằng mình tin có Chúa, chúng ta tin Chúa Giêsu ngự trong Bí Tích Thánh Thể… nhưng liệu chúng ta có yêu mến Ngài thật không? Tin và biết là một chuyện, nhưng có yêu mến hay không lại là một chuyện khác.

Chúng ta tự hào là biết Thiên Chúa, qua học hỏi, qua nghiên cứu, qua những khảo luận thần học, chúng ta thậm chí tự hào về kiến thức đầy mình về Thiên Chúa, nhưng có bao giờ chúng ta cầu nguyện tâm sự với Người không? Có đến viếng Thánh Thể không?

 

Lạy Chúa Giêsu, có thể chúng con đã từng tự hào biết Chúa qua những nghiên cứu, nhưng lại không yêu mến Chúa cho đủ. Xin Chúa cho chúng con biết Chúa là một Thiên Chúa đích thực là Đấng đã chịu đau khổ và chết vì chúng con, chứ không phải đi tìm một Thiên Chúa thỏa mãn ý mình. Để từ đó, chúng con không ngại bước theo con đường khổ giá mà Chúa đã đi, hầu đạt tới vinh quang phục sinh với Chúa. Amen.

 

 

THỨ BẢY TUẦN IV MÙA CHAY

 

+ ĐỌC TIN MỪNG: Ga 7,40-53

Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói: "Ông này thật là vị ngôn sứ." Kẻ khác rằng: "Ông này là Đấng Ki-tô." Nhưng có kẻ lại nói: "Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao? Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao? " Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.

Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng: "Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây? " Các vệ binh trả lời: "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy! " Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng: "Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu? Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa! " Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su; ông nói với họ: "Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không? " Họ đáp: "Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả." Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.

 

+ SUY NIỆM

Người xưa tin rằng, miền đất nào có “long mạch” (gân rồng) thì ở đó sẽ xuất hiện bậc đế vương hoặc hiền tài. Đời nhà Đường (vua Đường Ý Tông năm 860-873) bên Trung Quốc đã cử một thầy pháp về phong thủy tên là Cao Biền sang nước Việt chúng ta để đi trấn yểm các nơi có long mạch, nhằm nước Việt sẽ không có bậc vương quân nào xuất hiện và mãi mãi làm nô lệ cho Tàu.  Cũng đâu chỉ đến khi Cao Biền qua trấn yểm long mạch, mà trước đó bao trăm năm người dân Việt đã nô lệ cho giặc Tàu hùng mạnh đến nỗi mất dần niềm tin về chủ quyền, sự việc càng tệ hơn khi người ta không còn tin là nước Việt còn có thể xuất hiện được vị quân vương nào cứu mình nữa và như an phận trong kiếp nô lệ trải qua bao nhiêu đời vua chúa phương Bắc.

Ngày xưa suốt bốn trăm năm nô lệ bên Ai Cập, dân Do-thái cũng hầu như tuyệt vọng và an phận trong kiếp tôi mọi, cho đến khi Chúa cho xuất hiện Môi-sê cứu họ và chính họ đã không tin nổi lời Môi-sê dù chứng kiến phép lạ.

Một số cấp lãnh đạo tôn giáo trong dân Do-thái mà bài Tin Mừng hôm nay kể đến, phần thì họ như tuyệt vọng về kiếp sống bị ngoại bang (Rôma) đô hộ, phần vì họ mang trong mình một thành kiến về quá khứ là chưa có một vị ngôn sứ nào xuất thân từ Nazareth (Galilê), chính Bartholomeo trước khi được gọi làm môn đệ cũng đã trả lời là: “nào ở Nazareth nào có cái chi hay?”

Điều mà người Do-thái bám víu vào vẫn là lời ngôn sứ tiên báo về sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế thuộc dòng tộc Đa-vít và sinh tại thành Đa-vít là Bêlem, là một thành phía Nam gần thủ đô Giêrusalem. Trong khi Chúa Giê-su ở làng Nazareth, thuộc Galilê là một thành phía Bắc. Có một số người biết Đức Giêsu sinh tại Bêlem trong khi Giuse và Maria về Bêlem khai hộ khẩu, rồi sau khi từ Ai-cập về đã định cư tại Nazareth, nên những người Do-thái cãi nhau và chia rẽ lẫn nhau.

Tuy nhiên có một thực tế mà họ không thể chối cãi là họ chưa từng gặp một ai giảng dạy như Chúa Giêsu, đến nỗi những lính tráng của các thượng tế cũng phải về báo cáo là: "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy! " (Ga 7,46). Đáng tiếc là nhóm cầm quyền về tôn giáo của Do-thái cố tình không nhìn ra sự thật, họ còn lên án bất kỳ ai dám ca ngợi về Chúa Giêsu và tự cho họ mới là người nắm giữ chân lý. Họ lên án từ lính đến dân và cả người cùng cấp với họ là Nicôđêmô: "Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu? Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa! " (Ga 7,47-48). Lời tuyên bố của giới thủ lãnh đã tự lên án họ và loại họ ra khỏi đức tin khi nói: “Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu?” (Ga 7,47).

Thật ra, không phải là các thượng tế và kinh sư Do-thái không biết, nhưng là họ sợ mất quyền lợi, như ánh sáng không thể chung với bóng tối, bởi ánh sáng sẽ làm tỏ lộ ra tất cả những gì khuất tất. Chúa Giêsu là Ánh Sáng và Sự Thật. Sự xuất hiện của Người tại Giêrusalem đã làm phơi bày ra sự giả hình, ham mê quyền lực và trục lợi của giới cầm quyền.

Có thể không ít người trong chúng ta ngày hôm nay cũng thế, khi có tội hay đang theo đuổi những công việc mờ ám, thì chúng ta rất sợ đối diện với sự thật. Chúng ta ghanh ghét và lên án bất kỳ ai dám nói thật và tìm cách cả vú lấp miệng em hoặc dùng quyền diệt khẩu những ai có thể làm ý đồ và công việc chúng ta bị phơi bày.

Lại nữa, chúng ta vẫn mang trong mình thành kiến về nguồn gốc hay quá khứ của ai đó thì mãi mãi như vậy. Một người hiện nay tốt thế nào, thì trong mắt chúng ta họ vẫn là xấu khi chúng ta xét đoán họ có một lý lịch dòng họ hoặc quá khứ của họ. Chúng ta vẫn dùng sự thành kiến và hiểu biết của mình để kỳ thị người khác…

 

Lạy Chúa Giêsu, cũng như người Do-thái xưa, chúng con vẫn cố tình bịt mắt lương tâm lại để lẩn tránh sự thật; chúng con cũng cũng tìm lý do để biện minh cho những sai trái của mình và sẵn sàng lên án bất cứ ai dám nói lên sự thật. Xin cho chúng con trong những ngày còn lại của Mùa Chay thánh này, biết khiêm tốn lắng nghe và đón nhận những lời góp ý của mọi người, mà ra sức sửa đổi cho hợp với ý Chúa. Amen.

 

Hiền Lâm.