THƯ VIỆN

Ngày 22/01: Thánh Matthêu Alonso Đậu - Thánh Phanxicô  Frederich Tế

Cha Matthêu Alonso Đậu sinh ngày 26 tháng 11 năm 1702 tại Nava del Ray thuộc Tây Ban Nha. Ngay từ nhỏ, lúc mới 15 tuổi, cậu đã xin nhập dòng Đa Minh tại tu viện Sancta Cruz ở Segovia. Năm 1723 thầy đã khấn 3 lời khấn của Dòng và hoàn tất chương trình triết học và thần học Tới năm 1727 thầy lãnh chức linh mục lúc mới 25 tuổi.

Chịu chức linh mục được ít lâu thì tháng 11 năm 1730 cha được Bề trền chỉ định cùng với 24 linh mục tu sĩ khác cùng với cha Phanxicô Gil de Federich Tế sang truyền giáo tại Phi Luật Tân, rồi sau một thời gian thăm dò hoàn cảnh và xã hội Việt Nam, các đấng mở rộng môi trường hoạt động sang truyền giáo tại Việt Nam nữa.

Ngày 13 tháng 2 năm 1731 cha Matthêu Alonso Đậu và cha Phanxicô Gil de Federich Tế được lệnh đáp tầu từ Manila đi Việt Nam. Sau gần một năm trời vượt qua bao sóng gió hãi hùng và nguy hiểm tới ngày 19 tháng 1 năm 1732, hai nhà truyền giáo trẻ trung mới đặt chân được trên đất Việt Nam yêu quí. Cha Matthêu Alonso Đậu Đậu được chỉ định về Trung Linh để học tiếng Việt và tìm hiểu phong tục tập quan của người Việt Nam.

Cuộc đời của nhà truyền giáo trẻ trung khởi đầu bằng những thách đố không ngừng. Tới Việt Nam được năm tháng thì cuộc bắt đạo đã trở nên gay gắt. Đàng khác ngay tại địa phương đã có nhà sư tên Thịnh là người nằm vùng, trước kia đã tố cáo định bắt cha Phanxicô Gil de Féderich Tế. Vì hoàn cảnh khó khăn như vậy nên nhà truyền giáo Matthêu Alonso Đậu của chúng ta được nếm thử ngay những cảnh bị truy lùng, phải trốn lánh, gặp rất nhiều khó khăn vất vả. Nhưng trước những thách đố và nguy hiểm, các chiến sĩ truyền giáo của Chúa vẫn hiên ngang tiến bước, không hề lo sợ, nao núng Chính vì lòng nhiệt thành rao giảng Đạo Chúa nên ngày 19 tháng 1 năm 1732, Cha Matthêu Alonso Đậu Đậu được chỉ định tới lo việc truyền giáo tại Bắc Hà.

Ngay khi vừa tới địa phận Đông Đàng Ngoài, Ngài đã hăng say bắt tay vào công việc rao giảng Tin Mừng. Lòng nhiệt thành và lời rao giảng của Ngài cùng với ơn Chúa, đã được đông đảo người Việt Nam đón nhận và xin được lãnh nhận bí tích Rửa Tội để được làm con cái của Chúa và gia nhập đại gia đình Hội Thánh Chúa. Vì số người theo Đạo Chúa rất đông nên Ngài đã phải vất vả coi sóc nhiều giáo xứ giữa cơn bách hại Đạo Chúa đời chúa Trịnh. Mặc dù đã có lệnh cấm Đạo và truy bắt người theo Đạo, Cha Matthêu Alonso Đậu vẫn một lòng bền chí, say sưa lo việc mở rộng Đạo Chúa trong lớp người nông dân chân thành, chất phác và dễ thương này.

Nhưng rồi một chuyện đau buồn đáng tiếc xẩy đến. Đó là vào một buổi sáng cuối năm 1743, giữa lúc Cha đang dâng thánh lễ thì quân lính đã ào ào kéo nhau tới vây bắt Ngài trong thánh đường. Sau này người ta mới biết rằng Ngài bị bắt là do lời tố cáo của một người phản giáo, đã bỏ Đạo. Người phản giáo này đã đi tố cáo Ngài với nhà cầm quyền để lấy tiền thưởng của nhà vua.

Cha Matthêu Alonso Đậu bị xích tay, đeo gông nặng nề, bị đánh đập tàn nhẫn, bị hành hạ cách dã man và chịu tống giam trong tù một thời gian khá lâu.

Ngày 18 tháng 12 năm 1833, cha Matthêu Alonso Đậu bị điệu ra toà.để thẩm vấn. Phiên toà hôm nay do quan Đề Lĩnh, con rể ông Thị Trưởng, chưa bao giờ gặp được đạo trưởng ngoại quốc nên ông Đề Lĩnh nhận chủ toạ cuộc thẩm vấn này. Quan Đề Lĩnh hỏi cha:

- Ông là người ngoại quốc tới xứ này được bao lâu rồi?

Cha trả lời:

-  Thưa quan lớn, từ 12 năm

Ông tới đây có mục đích gì? Quan hỏi.

- Thưa quan lớn, tôi có trách vụ dạy lề luật Thiên Chúa, là lề luật thánh thiện, chân chính. Do đó tôi đến dạy cho người ta.

Quan hỏi tiếp:

- Ông dạy thế nào cho người ta tôn trọng luật này?

Cha trả lời:

- Tôi dạy về Thiên Chúa và ba vị đóng vai trò làm Chủ, tức là Thiên Chúa ở trên trời, ông vua trong một nước và cha mẹ trong gia đình.

Nói xong cha Matthêu Alonso Đậu đọc cho quan nghe 10 Điều Răn trong đạo.

Quan khen hay rồi nói tiếp:

- Vua đã nghiêm cấm không cho ông giảng đạo trong nước. Tại sao ông còn ngoan cố tới đây và liều mình với bao nhiêu vất vả, nguy hiểm gian nan?

Cha trả lời:

- Tôi biết nhà vua cấm, do đó tôi không xuất hiện nơi công cộng. Tôi phải di chuyển, đi lại trong đêm để giảng lề luật của Chúa, Đấng ngự trên trời. Tôi khuyên bảo người ta ăn ngay ở lành, tập luyện nhân đức và phải xa lánh những điều bất chính, tội ác.

Quan cười và nói tiếp:

- Nghe ông nói, tôi biết ông rất thành thật. Vậy ông từ nước nào tới đây?

- Thưa quan lớn, tôi đến từ nước Tây Ban Nha, gần nước Bồ Đào Nha

Sau cuộc tra vấn này, quan Đề Lĩnh ra lệnh tháo gông cho cha. Nhưng lại xiềng xích tay chân cha lại. Trong lao tù lúc ấy có cha Phanxicô Gil de Féderich Tế cũng đang bị giam. Hai cha cố gắng tìm mọi cách để liên lạc với nhau và có thể được giam chung với nhau nữa. Và thật may mắn, cầu được ước thấy, ngày 30 tháng 5, ngày lễ Chúa Ba Ngôi hai cha cùng quốc tịch Tây Ban Nha, cùng dòng Đa Minh được xum họp với nhau trong cùng một nhà giam, hai cha vui mừng có cơ hội để tâm sự với nhau, khuyến khích nhau, nhất là xưng tội và dâng lễ với nhau nữa

Khi phải đối chất với các quan, cha Matthêu Alonso Đậu luôn tỏ ra bình tĩnh, không khiếp sợ, mặc dầu trước những hình phạt ghê gớm. Trước mặt các quan, quan chánh án hỏi cha:

- Ông biết là lệnh vua cấm truyền bá đạo Gia Tô là đạo của tây phương. Tại sao ông còn cố chấp gieo rắc những sự sai lạc trong dân chúng như thế?”

Cha bình tĩnh giải thích và nói về đạo cho các quan nghe:

- Trước hết vua và các quan hiểu lầm, cho đạo Gia Tô là đạo tây phương. Không phải thế. Đạo Gia Tô do Chúa Giêsu truyền dạy và mạc khải cho chúng ta, mà Chúa Giêsu là người Đông Phương, xuất xứ từ Đông Phương chứ đâu có phải đạo của tây pbương. Đàng khác, đạo Gia Tô khuyên dạy người ta kính thờ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng trời đất và chúng ta nữa. Đạo dạy ăn ngay ở lành, hiếu thảo với cha mẹ, với vua quan, yêu thương mọi người. Tại sao quan lại nói là chúng tôi gieo rắc những sự sai lạc?.

Quan lại hỏi:

- Ông nói đạo dạy hiếu thảo với vua quan. Vậy tại sao ông không vâng lệnh vua bỏ đạo? Nếu ông vâng lệnh vua bỏ đạo, vua sẽ ban bổng lộc và cho ông làm quan, được ở bên cạnh vua nữa. Vua rất quí trọng các ông mà!

Cha đáp lại:

- Thưa quan lớn! Chúng tôi không thể vâng lời vua mà bỏ đạo Chúa được. Chúng tôi phải vâng lệnh Thiên Chúa trước đã. Vì Thiên Chúa còn trọng hơn vua. Chúa dựng nên vua mà! Tôi đã bỏ mọi sự, bỏ quê hương và gia đình cùng mọi người thân yêu để tới đây chỉ có một mục đích duy nhất là rao giảng cho nhiều người nhận biết Thiên Chúa mà thôi, nên sự giầu sang, chức quyền, của cải mà quan nói, tất cả những sự ấy tôi không cần. Tôi xin cám ơn quan lớn.

Quan lại hỏi:

- Ông bị tra tấn, bị đánh đau đớn như thế, tại sao ông không khai báo tên và nơi trốn lánh của các đạo trưởng khác? Ông có bùa thuật nào để chịu được sự đau đớn như vậy?

Cha tươi cười trả lời:

- Làm gì có bùa thuật nào để chiụ được những cuộc hành hạ đau đớn như vậy! Vì lòng yêu mến Thiên Chúa và Thiên Chúa giúp nên tôi sẵn lòng chịu mọi đau đớn và hành hạ vì Chúa mà thôi. Còn các đạo trưởng khác thì bị truy lùng, bắt bớ, mỗi người đi một nơi. Tôi không biết hiện nay các vị đó đang ở đâu. Các quan mà không biết thì tôi biết làm sao được?.

 Sau nhiều lần tra hỏi và khuyên dụ, khi thì ngọt ngào thân thiện, khi thì gay gắt và bị đánh đập tra xét, Nhưng lần nào các quan cũng thất bại, vì không thể thuyết phục được Ngài nên các quan bàn định làm án tử hình về tội đã rao giảng Đạo Chúa rồi chuyển án về triều đình, xin vua châu phê.

Ngày 22 tháng 1 năm 1745, sau khi đã dâng lễ, cha Phanxicô Tế bị điệu đi xử và cha Matthêu Alonso Đậu cũng được theo chân bạn ra tận pháp trường để cùng chịu trảm quyết ngay hôm đó. Lịch sử còn ghi lại một vài chi tiết rất lạ lùng. Sáng hôm ấy bầu trời rất quang đãng, trời đẹp. Nhưng khi quan quân áp giải hai cha Phanxicô Tế và cha Matthêu Alonso Đậu từ nhà giam ra pháp trường Đông Mơ trời đang trong sáng bỗng tự nhiên tối sầm lại cho tới khi hai chiếc đầu của hai vị tử đạo rụng xuống thì trời lại tươi sáng trở lại. Và hai chiếc đầu còn dính đầy máu thì từ đâu hai con chim bồ câu trắng bay tới lượn trên cao, rồi lại bay sà xuống đất, bay nhiều vòng liên tục.

Sau khi hai chiếc đầu rơi xuống đất thì những người chứng kiến cả lương lẫn giáo, người ta đổ xô tới thi nhau thấm máu và chia nhau lấy những mảnh vải áo của các Ngài. Nhờ những tấm khăn thấm máu này nhiều ơn lạ đã xẩy ra. Nhiều bệnh nhân và nhiều chứng bệnh nan y lâu ngày chữa trị không khỏi, nay lấy những miếng bông hay vải thấm máu các Ngài đặt lên chỗ đau hay để trên ngực rồi cầu xin các Ngài mà được khỏi bệnh.

Trước những sự lạ lùng như thế, người tín hữu trở nên mạnh bạo, không còn sợ hãi, lén lút nữa mà trở nên can đảm, tinh thần vững mạnh và xuất hiện công khai để lo thu lượm di hài và rước về mai táng cách long trọng và công khai đặt dưới bàn thờ Đức Mẹ Mân Côi của nhà thờ xứ Lục Thủy.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1906, và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

  Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS

Cha Phanxicô  Frederich Tế sinh ngày 14 tháng 12 năm 1702 tại Toetosa Catalunha, thuộc Tây Ban  Nha trong một gia đình quí tộc. Ông bà thân sinh của cha rất đạo đức và luôn đề cao những giá trị tôn giáo. Chính vì vậy mà ông bà đã đặt nặng lòng đạo đức và tinh thần Công giáo trong việc giáo dục các con cháu trong gia đình.

Năm 15 tuổi cậu Phanxicô Frederich tận hiến cho Chúa trong Dòng Đa Minh tại tu viện Barcelona. Ngay từ nhỏ, cậu Frederich đã nhiều lần được mẹ kể cho cậu nghe chuyện của nhiều vị đi truyền giáo tại các xứ sở xa xôi. Nhờ vậy, cậu đã nhiều lần mơ ước sau này sẽ trở thành chiến sĩ đi truyền giáo ở những vùng trời xa xăm như những câu chuyện cậu đã được nghe mẹ kể. Sau khi chịu chức linh mục, năm 22 tuổi, cha xin tình nguyện đi truyền giáo bên Viễn Đông. Nhưng Bề trên đã không chấp nhận ngay, vì thấy cha còn trẻ tuổi nên muốn trì hoãn lại một thời gian để thử thách ý chí và lòng nhiệt thành của cha. Đàng khác bề trên nghĩ rằng cha Frederich khó có thể chấp nhận khổ cực được vì cha là con nhà giầu có, thuộc dòng dõi quí phái, đi tu được cũng đã là điều may mắn lắm rồi. Bây giờ đi truyền giáo còn đòi hỏi hy sinh gấp ngàn lần nữa thì làm sao chịu được! Nhưng nhiều lần cha năn nỉ xin Bề trên để được đi truyền giáo.

Sau một thời gian thử thách, Bề trên thấy ý chí và lòng nhiệt thành lo việc truyền giáo của cha là đáng kính phục nên tới năm 1729 Bề trên đã quyết định sai cha đi cùng với 24 linh mục tu sĩ khác lên đường sang Phi Luật Tân lo việc truyền giáo cho vùng đất rộng lớn này. Con tầu khởi hành từ cảng Bordeaux, đưa các nhà truyền giáo sang Viễn Đông. Con tầu lênh đênh trên biển cả bao tháng ngày, mãi tới đầu tháng 11 năm 1730 tầu mới cập bến Manila bằng an.

Tại Manila, Phi Luật Tân, Cha Federich học tiếng địa phương dễ dàng, và thích ứng với khí hậu, văn hoá và nếp sống của người dân một cách mau chóng. Do đó, cha được chọn làm thư ký cho cha Bề trên Giám Tỉnh của Dòng Trong chức vụ mới này, cha đã tỏ ra là một cộng tác viên rất đắc lực của cha Bề trên và cha đã chiếm đươc sự quí mến của Bề trên cũng như của mọi thành phần trong cộng đồng Tu Viện. Đến ngày 28 tháng 8 năm 1735, vì nhu cầu của công việc truyền giáo tại Bắc Hà đòi hỏi tăng cường nhân sự nên Bề trên Giám Tỉnh đã sai cha sang Việt Nam tiếp tay với các anh em đã có mặt và đang hoạt động rao giảng Tin Mừng tại vùng đất phì nhiêu Bắc Hà này. Tới nơi, cha nhận tên Việt Nam là Tế và ở Lục Thủy giáo phận Bùi Chu ngày nay để học tiếng Việt chừng năm tháng, sau đó cha bắt đầu đi hoạt động trong các vùng lân cận của huyện Trực Ninh, Giao Thủy. Xuân Trường. Cha hăng say xả mình trên cánh đồng truyền giáo mênh mông mà không biết mệt mỏi. Có lần cha đang bị cảm nặng, nghe tin có bệnh nhận bị liệt giường cần xưng tội. Cha vội vàng chỗi dậy đi ngay. Có người can ngăn cha, sợ cha bị lây bệnh. Cha trả lời: “Hồi xưa Chúa bị treo trên Thánh Giá, gần tắt thở, Chúa còn giải tội cho người trộm lành. Phần tôi chưa đến nỗi chết, tôi phải đi giúp người ta chứ”. Quả thật, Cha Gil de Federich Tế là một linh mục đầy lòng quả cảm, Ngài đã biết rằng tới Bắc Hà trong thời điểm này thật khó khăn và đầy những thách đố đang chờ đợi cha, vì chính thời gian này là thời gian Đạo Chúa đang bị chúa Trịnh bách hại một cách vô cùng tàn bạo .

Bất chấp mọi thử thách, cha đã hăng say lăn xảo vào trách vụ truyền giáo. Cha  tận tụy trong công việc dạy giáo lý, lo Rửa Tội cho rất nhiều tân tòng trong khu vực Nam Định, Bùi Chu v.v. Cha đã gặt hái được rất nhiều thành quả cho Chúa, đã đưa được nhiều người trở về tin theo Đạo Chúa. Nhưng rồi những sự khốn khó lại xẩy tới. Vì thấy nhiều người bỏ chùa chiền đi theo cha Frederich Tế nên một nhà Sư tên Thịnh sinh lòng ghen tị và ác cảm với cha, do đó nhà Sư này đã đi tố cáo cha với nhà chức trách. Chính vì thế mà ngày 3 tháng 8 năm 1737 cha đã bị bắt ngay tại nhà thờ xứ Lục Thủy. Biết được âm mưu của nhà Sư và cuộc truy lùng của quân lính, giáo dân đã tìm đủ mọi cách để cứu thoát cha, nhưng công việc không thành, vì vậy cha đã bị bắt và áp giải về Thăng Long. Vế tới Thăng Long, cha được đưa tới công đường để tra vấn, xét hỏi, rồi bị tống giam trong ngục tù, bị đày đọa một cách rất tàn nhẫn.

Một hôm các quan ra lệnh dẫn cha Phanxicô  Frederich Tế ra công đường, các quan hỏi cha về danh sách những người Công giáo mà cha đã lui tới, giảng dạy. Cha nhất định không khai. Các quan bực mình, đem ra một tang vật đã tịch thu được là một chiếc hộp trong đó có tượng ảnh, cây Thánh Giá và tượng Đức Mẹ bằng ngà và ảnh Đức Mẹ Mân Côi. Một quan hỏi cha :

- Những đồ vật này là gì đây? Tang chứng rõ rệt quá rồi. Ông phảI khai báo rõ ràng cho chúng tôi.

Cha bình tĩnh, lần lượt giải thích, vì có dịp được nói về đạo. Cha nói:

- Cây Thánh Giá là hình ảnh Chúa Giêsu con Thiên Chúa đã giáng trần làm người, đã tử nạn để đền thay tội lỗi chúng ta. Còn hai tượng kia là hình ảnh Đức Mẹ chí thánh ngày xưa đã sinh Chúa Giêsu tử nạn.

- Thế sau khi chết rồi ông hy vọng đi về đâu? Quan hỏi.

- Đi lên trời hưởng phúc trường sinh.

Quan lại hỏi tiếp:

- Chết rồi, xác chôn dưới lòng đất, mà ông nói là lên trời làm sao. Ông nói vô lý quá, ai nghe được?

Cha đáp:

- Phải xác nằm nguyên lại trong mồ, nhưng linh hồn là bản tính linh thiêng có hai đường đi: một là lên trời hưởng phúc vĩnh cửu, hai là xuống hoả ngục chịu khổ muôn đời, tùy theo tội phúc của mỗi người khi còn sống.

Quan lại tò mò hỏi tiếp:

- Thế ra cũng lên trời được à?

Cha giải thích tiếp:

- Thật vậy, nếu không như thế thì làm sao tôi có can đảm sẵn sàng chịu mọi đòn vọt, tra tấn, chịu khổ nhục và sẵn sàng chấp nhận chết?.

Các quan cười rồi nói:

- Rõ là chuyện bịa đặt chứ ông biết gì. Chúng tôi không tin điều ông nói.

Cha thản nhiên  đáp:

- Chính Thiên Chúa đã dạy như thế. Thiên Chúa không thể nói dối được.

Quan chánh án lại nói:

- Có bao giờ ông nghe thấy Thiên Chúa nói không?

Cha nói với giọng quả quyết:”

- Mặc dầu tôi chưa đích thân nghe thấy. Nhưng tôi vẫn xác tín là Thiên Chúa đã dạy như vậy.

Cuộc đối thoại chấm dứt. Quan tòa ra lệnh đưa ra một cái búa, cha chưa hiểu búa dùng để làm gì thì quan nói với cha:

- Ông hãy cầm búa đập tan những ảnh tượng này đi

Cha không trả lời. Cha cầm chiếc búa ném ra ngoài. Lính vội vàng chạy ra cầm búa vào đưa cho nhà Sư để đập tượng. Cha Phanxicô  Frederich Tế vội lấy hai tay che đầu tượng và thẳng thắn nói:

- Muốn đánh thì  đánh trên hai bàn tay này hay bất cứ nơi nào trên thân xác tôi. Nhưng xin đừng xúc phạm đến Chúa tôi tôn thờ.

Chứng kiến cảnh xô xát này, các quan cười rũ rượi rồi tuyên bố giải tán, cho lệnh đưa cha về lại nhà giam.

Trong năm 1738 có tất cả 5 lần phải ra công đường đối chất như vậy. Nhưng không lần nào các quan thuyết phục được cha.

Sau nhiều lần bị đánh đập, tra hỏi các quan hội họp quyết định kết án tử hình về tội đã rao giảng Đạo Gia-Tô. Bản án đã công bố nhưng vì trong thời gian này có nhiều biến cố dồn dập xẩy tới, vì vậy mà bản án bị quên dần và cha cũng được đối xử tử tế hơn đôi chút,

Vì bản án bị đình hoãn nên ngày 30 tháng 5 năm 1744 cha Phanxicô  Frederich Tế đã có cơ hội được gặp lại cha Matthêu Alonso Đậu tại nhà tù Thăng Long. Hai người bạn đồng hương lại cùng Dòng Đa Minh được gặp nhau  trong hoàn cảnh tù đày tại một nơi xa xôi với quê hương của mình, chắc chắn phải là một dịp vô cùng quý báu, vô cùng sung sướng, vô cùng vui mừng và xúc động. Thế rồi tới ngày 20 tháng 1 năm 1745 sau khi đã dâng thánh lễ, Cha Phanxicô  Frederich Tế bị điệu đi xử tử và Cha Matthêu Alonso Đậu được phép tiễn chân bạn ra tận pháp trường để chứng kiến cái chết anh hùng của bạn rồi cùng chết với bạn..

Thật ý Chúa nhiệm mầu như muốn cho hai người môn đệ của Chúa được vinh phúc lãnh triều thiên tử đạo cùng ngày với nhau nên Chúa đã để cho Chúa Trịnh đổi ý, ra lệnh thi hành án lệnh tử hình cha Matthêu Đậu ngay trong ngày hôm đó. Thế là cha Matthêu Anphongsô Đậu bị trảm quyết cùng một nơi chốn với cha Phanxicô  Frederich Tế. Cả hai thi hài các Ngài đã được giáo dân đón nhận, rước về an táng tại nhà chung xứ Lục Thủy, giáo phận  Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong hai vị anh hùng tử đạo lên bậc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1906. Sau 82 năm, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn vinh các Ngài lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.  

Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS