THƯ VIỆN

Ngày 30/11: Thánh André, Tông đồ và Thánh Giuse Marchand Du, Linh mục Thừa sai, Tử đạo VN (1803-1835)

Tương truyền Thánh André đã bị cột vào Thánh giá đã có từ thế kỷ XII và chỉ vào thế kỷ XIV... người ta mới tưởng tượng Thánh giá đó hình chữ X. Dụng cụ cực hình ấy được mệnh danh là Thánh giá Thánh ANRÊ.

Ngày 30/11

Thánh André, Tông đồ (Thế kỷ I)

Thánh Giuse Marchand Du, Linh mục Thừa sai, Tử đạo VN (1803-1835)

1. Thánh Anrê Tông đồ

André tiếng Hylạp có nghĩa là mạnh mẽ, can đảm. Thánh André được vinh dự làm một trong số 12 Tông đồ của Chúa Giêsu. Con của Gioana. Như em mình là Phêrô, ngài làm thuyền đánh cá và không có gì khác ngoài chiếc thuyền. Như thế, ngài thuộc lớp người khiêm tốn được Chúa Giêsu yêu thương đặc biệt. Ngài vẫn sống tại làng Bethsaida nhỏ bé bên bờ biển Galilêa cũng gọi là hồ Giênezareth. Ngày ấy đang khi cùng với Phêrô đi thả lưới, Chúa Giêsu đã đi ngang qua và đưa lời gọi sẽ quyết định cuộc đời các ngài: Hãy theo tôi, tôi sẽ làm các anh thành các ngư phủ lưới người ta.


Đây không phải lần đầu André đã gặp đấng cứu thế. Thỉnh thoảng ngài có tới nghe Gioan Tẩy giả rao giảng trong sa mạc. Khi ấy Chúa Giêsu xuống Galilea và Gioan tẩy Giả đã nói: Đây là Chiên Thiên Chúa.


Và André có mặt ở đó với Gioan, đã biết được Người là Đấng thiên sai mong chờ. Gioan và André lên đường theo Người xa xa vì họ cảm động và không dám tới gần. Nhưng Chúa Giêsu quay lại và nói với họ: Các anh tìm chi vậy?


Họ, những người chỉ tìm, chỉ muốn Chúa thôi đã thưa lại: Thưa Thầy, thày ở đâu?


Chúa Giêsu nói: Hãy đến mà xem. Và cả hai đã ở với Chúa hôm ấy.


Khi trở về nhà André đã nói với em mình: Chúng tôi đã gặp được Đấng thiên sai.


Từ đó hai anh em đã bỏ chài lưới để tới gần Chúa Giêsu. Họ nghe Người và thần tính của Người dần dần rọi sáng tâm hồn họ. Họ đã tông thờ Đấng Cứu Thế ở trong lòng rồi.


Ở tiệc cưới Cana, Anrê đã thấy Chúa Giêsu biến nước thành rượu và lần đầu tiên thấy tỏ lộ vinh quang thần linh của Ngài. Thế là sau biến cố ấy Chúa Giêsu đã gọi hai anh em bên bờ biển Galilea và họ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa.


Anrê đã rạng rỡ trong lòng mà tham dự vào cuộc chữa lành các bệnh nhân gặp thấy trên đường đi, việc Phúc Âm những kẻ chết, việc Chúa hoá bánh ra nhiều để nuôi đoàn người đói lả vây quanh Chúa Giêsu. Chính André đã nói: Có một bé trai có năm chiếc bánh và hai con cá, nhưng bằng ấy thì thấm vào đâu đối với ngần này người (x. Ga 6,8-9).


Và ngài được thấy Chúa Giêsu tăng gấp số thực phẩm. Ở Gierusalem, ngài còn cho Chúa biết rằng: lương dân đã xin với Philipphê cho được gặp Người. Ngài đã nghe loan báo các chân phúc, các dụ ngôn. Ngài đã có mặt trong Bữa Tiệc Ly. Sau phục sinh, ngài đã sung sướng gặp lại Thầy chí thánh. Ngày lên trời, ngài thấy Người tiến lên mây trời. Ngày hiện xuống, ngài đón nhận Chúa Thánh Thần.


Sau những tường thuật trên của Phúc Âm, người ta không biết gì chắc chắn nữa về André. Các bản văn không có thẩm quyền nói rằng: ngài đã góp phần Phúc Âm hoá dân chúng miền Bithynia, Bontê và Galitia. Ngài bị bắt bên bờ Bắc Hải và kết thúc cuộc đời tại Achaia. Lửa đức ái rực cháy trong lòng vị tông đồ. Người ta nói rằng: để cải hoá một tâm hồn, ngài ăn chay 5 ngày. Đây là tục truyền kể lại cuộc tử đạo của Thánh André ở Taurida.


Êgêa, tổng trấn tỉnh đó cho biết vị tông đồ có mặt ở Patras, thủ phủ của ông, ông liền vội vã tới nơi: kẻ ngoại lai này muốn phá huỷ đền thờ các thần minh ư? Nhưng André không sợ gì Egêa. Ngài đã nắm vững được chân lý. Ngài nói: Tôn thờ loài người chỉ là dị đoan điên khùng. Ông đã lãnh quyền xét xử người ta, trước hết ông phải biết đến vị thẩm phán xét xử mọi người chúng ta ở trên trời và ông phải tôn kính ca ngợi Người.


Êgêa vặn lại: Vị thẩm phán anh nói là Chúa Giêsu mà lời ông ta thường giảng dạy đã làm cho ông ta phải chết trên thập giá chứ gì? Vậy nếu anh không dâng hương tế thần, anh cũng sẽ phải chết trên thập giá như vậy.


Không hề sợ sệt, André như rạng rỡ vì hạnh phúc: Làm sao ngài để mất danh dự được đóng đinh vào cùng một đau khổ giá như thày mình được? Khi bắt đầu những tra tấn đầu tiên, lòng dũng cảm còn tăng thêm, ngài nói với Êgêa: Cực hình cuối cùng ông đe doạ sẽ được tiếp liền bằng vinh quang bất diệt.


Khi thấy thập giá mình sẽ phải chết trên đó, thánh nhân hớn hở chào kính mà người ta thích lập lại lời chào ấy: Ôi thánh giá tốt lành, thánh giá bấy lâu mong chờ, thánh giá nhiệt tình yêu mến, hãy đưa ta tới thầy chí thánh là Đấng đã nhờ Người mà cứu chuộc Ta.


Dịu dàng André giang tay ra. Ngài bị cột bằng giây để cái chết tới chậm hơn. Hình phạt sẽ kéo dài 2 ngày và người ta còn nghe ngài tiếp tục rao truyền đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Dân chúng vây quanh ngài với niềm thán phục đã xin quan tổng trấn tháo giây cho ngài. Họ nói:  Hãy trả con người thánh thiện cho chúng tôi. Đã 2 ngày bị treo, ngài không ngừng nói những lời tốt lành, đừng giết con người yêu quý của Thiên Chúa.


Nhưng André không muốn được trả về cuộc sống khốn cực trần gian này. Ngài cầu nguyện:


- Lạy Chúa Kitô hãy đón nhận con, ôi Thầy con yêu, con biết con ước ao được gặp Thầy, trong Thầy mà con được thế này. Hãy nhận lấy hồn con, lạy Chúa Giêsu Kitô.


Và những người tham dự thấy linh hồn vị tông đồ trong hào quang đã bay về với Chúa tạo thành và cứu chuộc của mình.
Tương truyền Thánh André đã bị cột vào Thánh giá đã có từ thế kỷ XII và chỉ vào thế kỷ XIV... người ta mới tưởng tượng Thánh giá đó hình chữ X. Dụng cụ cực hình ấy được mệnh danh là Thánh giá Thánh André.

 

Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

 

 2. Giuse Marchand Du, Linh mục Thừa sai, Tử đạo VN (1803-1835)

Giuse Marchand Du sinh năm 1803 tại Passavaut, Besancon, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Ngoài, bị xử hình bá đao ngày 30/11/1835 tại Thợ Ðúc dưới đời vua Minh Mạng. Đức Lêo XIII đã suy tôn linh mục Marchand Du lên bậc Chân Phước ngày 27.5.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 30/11.

Người tử hùng bá đao

Trong 117 thánh tử đạo Việt Nam, cuộc tử đạo của thánh Marchand Du mang màu sắc bi tráng nhất. Với gần ba tháng trong chiếc cũi chật hẹp, và những cuộc tra tấn chết đi sống lại, ngài là vị duy nhất bị án bá đao, nghĩa là bị cắt xẻo 100 nhát trước khi bị chặt ra làm bốn phần, còn thủ cấp bị nghiền nát đổ xuống biển.

Tuy nhiên, chúng ta không nên quá nhấn mạnh đến những đau thương trong cuộc tử nạn, mà quên mất chứng từ đời sống của thánh nhân: sự nhiệt tâm truyền giáo, lòng yêu mến các tín hữu và chí cương quyết chỉ phục vụ Tin Mừng.

Mong ước tuổi xuân

Đầu thế kỷ XIX, tại làng Passavant, nước Pháp, nhiều người đã phải ngạc nhiên khi thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy mười tuổi: sau giờ học, cậu rủ các bạn hữu về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm bàn thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây Thánh Giá, rồi bắt trước các cử điệu như khi linh mục dâng lễ Missa cho các bạn xem. Đó là cậu bé Giuse Marchand.

Mở mắt chào đời ngày 17.8.1803 tại làng Passavant, tỉnh Doubs. Ngay từ niên thiếu, dân làng đã thấy rõ ước muốn trở thành linh mục của cậu. Sau khi rước lễ lần đầu, cậu xin cha mẹ đi tu, nhưng vì gia đình làm nghề nông túng nghèo, thiếu người lao động, nên cha mẹ cậu tìm cách trì hoãn cho cậu đổi ý. Tuy nhiên, Marchand đã không thay đổi ý định, cậu kiên quyết hoàn thành mộng ước tuổi xuân, và cuối cùng bên người đổi ý là song thân của cậu. Năm 18 tuổi, Marchand gia nhập chủng viện giáo phận Besacon. Năm 1828, sau khi lãnh chức phó tế, thày Marchand xin chuyển sang Hội Thừa Sai Paris. Độ nửa năm, thày được thụ phong linh mục (04.4.1829), sau đó một tháng thì đáp tàu đi Macao đến Việt Nam giảng đạo.

Nhà du thuyết nhiệt tâm

Tháng 3.1830, cha Marchand vào tới Việt Nam, và lấy tên mới là Du. Sau một thời gian học tiếng và phong tục Việt Nam tại Lái Thiêu, cha du được cử tới Pnom-Pênh để coi sóc các tín hữu Việt Nam tại đây (khi đó đất Campuchia thuộc giáo phận Đàng Trong). Thế rồi ít lâu, cha được gọi về Lái Thiêu coi sóc các chủng sinh, đồng thời phụ trách 25 giáo họ, với khoảng 7000 tín hữu thuộc tỉnh Bình Thuận.

Trong thư đề ngày 13.6.1832 gởi về quê nhà cha viết: "… 25 giáo họ cách nhau rất xa. Muốn chu toàn bổn phận, con không thể bỏ phí một giây nào… từ năm giờ sáng đến chín giờ tối, nhiều ngày chẳng có lúc nào rảnh rỗi cả. Con chỉ có thể dành chút thời giờ chu toàn việc đạo đức riêng lo cho phần rỗi mình, còn thì luôn luôn phải làm việc để thánh hóa kẻ khác… Con chỉ tiếc một điều là không thể tận tụy hơn được nữa, để vừa giúp giáo dân, vừa giúp lương dân, lại cón phải bắt buộc di chuyển bằng thuyền, nên không thể đi mọi nơi, hầu dẫn về đoàn chiên Chúa Giêsu những con chiên bất hạnh lạc đường…".

Cha Du mới đi hết 25 giáo họ này được hai lần thì ngày 16.1.1833 vua Minh Mạng ra chiếu chỉ lùng bắt các giáo sĩ Âu Châu. Đức cha Tabert Từ, cha Cuénot Thể và các thừa sai dẫn theo các chủng sinh trốn qua Thái Lan. Chỉ mình cha Du nhất nhất quyết ở lại, ẩn tránh ở miền Lục Tỉnh, giúp các họ Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi Xan, Giồng Rùm, và trú ngụ tại Mặc Bắc, Vĩnh Long.

Tôi chỉ biết một điều là giảng đạo

Lê văn Khôi thực ra có họ Nguyễn, từng nổi loạn ở Cao Bằng, sau ra đầu thú, được Tả quân Lê Văn Duyệt nhận làm con nuôi, mới đổi qua họ Lê. Lợi dụng việc vua Minh Mạng xử tệ với Tả quân (khi đó đã thất lộc cho đánh trên mộ 100 trượng), Lê văn Khôi liền lấy cớ phò cháu đích tôn của vua Gia Long, con hoàng tử Cảnh tên là Đản. Việc bại lộ, khôi bị bắt. Đến 05.7.1833, ông với khoảng 30 bạn tù vượt ngục, giết một vài quan, thả các tù nhân khác, rồi chiêu binh chiếm Phiên An (Sài Gòn) và miền Lục Tỉnh.

Lê Văn khôi tuy ngoại đạo, ngưng đã khôn khéo hứa hẹn bãi bỏ các lệnh cấm đạo của vua Minh Mạng, nên một số tín hữu theo ông. Để có thể quy tụ nhiều người Công Giáo hơn ủng hộ mình, Lê Văn Khôi cho mời cha Du về Sài Gòn, cha từ chối. sau vì một số tín hữu Chợ Quán nói: "Nếu cha không chịu về, sợ quan giận mà chém hết bổn đạo trong thành. Ở đó bổn đạo cũng đông lắm…". Thế là cha Du đành lòng về xứ Chợ Quán ở nhà thờ cha Phước, nhưng rất ít khi ở nhà, cha lo đi thăm các gia đình tín hữu. Lê văn Khôi nhiều lần mời, cha vẫn không chịu vào trong thành.

Khi quân triều đình vây thành Gia Định, Khôi cho quan đem voi ra Chợ Quán bắt ép cha Du phải vào thành. Cha Phước và nhiều tín hữu cũng theo vô. Trong thành, tướng Khôi xử đãi cha khá rộng rãi, có nhà riêng để dâng lễ hàng ngày, các tín hữu có thể tụ tập ở đó để đọc kinh, nghe giảng và lãnh các bí tích. Khôi có ý mua chuộc để cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: "Tôi chỉ biết việc đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành".

Một hôm cha được mời vào dinh nguyên soái. Một xấp thư kêu gọi dân chúng và tín hữu nổi dậy chống nhà vua để trên bàn. Tướng khôi xin cha ký tên. Vị linh mục thấy rõ đã đến lúc tỏ rõ lập trường của mình, liền đứng dậy cầm xấp thư, ném tất cả vào lửa. Dầu vậy quân của Khôi không dám làm gì cha, vì sợ các tín hữu trong đội quân sẽ chống lại.

Sau hơn hai năm vây hãm, ngày 08.9.1835 quân chiều đình đã chiếm lại được thành Phiên An. Cha Du vừa cử hành thánh lễ xong thì bị bắt, bị đánh đập và bị nhốt vào cũi nhỏ, dài một mét (1m), rộng bảy tấc (0.7m), cao tám tấc (0.8). Đó sẽ là "nhà ở" của cha cho đến ngày xử tử, căn nhà mà chủ nhân chỉ có thể ngồi khom lưng suốt ngày đêm.

Số người bị tàn sát lên đến 1994, trong đó có 66 tín hữu (chỉ có 20 nam, còn bao nhiêu là phụ nữ và trẻ em), cha Phước cũng bị xử lăng trì (chặt chân tay, rồi chẻ thân hình làm bốn). Cha Du được đưa ra xét xử:

- Giặc đã đem thày vào thành, thày không làm gì để chúng giúp chúng sao?

- Tôi chỉ lo việc giảng đạo mà thôi…

- Giảng đạo là giống gì?

- Là đọc kinh, làm lễ và dạy dỗ bổn đạo.

- Thày có biết làm thuốc mê để dỗ lòng ngụy cho nó theo không?

- Tôi chỉ biết có một việc là giảng đạo mà thôi.

Sau hai cuộc tra vấn nữa, cha Du bị giam trong cũi và bị áp giải về kinh đô cùng với tổng Trắm, đồ Hoành bốn Bang, phó Nhã và con trai Lê văn Khôi là Lê văn Viên mới bảy tuổi. Đoàn người vế tới Phú Xuân ngày 15.10, cha du bị gaim trong ngục Võ Lâm gần tòa Tam Pháp.

Đàng sau bản án phản loạn.

Hôm sau 16.10, cha Du bị đưa ra tòa Tam Pháp. Các quan cố ép cha nhận tội giúp Khôi làm loạn. Nhưng cha khẳng định: "Tôi chỉ lo cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ thôi". Quan hạch hỏi: - Có phải người gửi thư vô Xiêm, cùng gửi thư cho quân Gia Tô trong Đồng Nai, biểu nó đến giúp ngụy không?

Cha Du trả lời: "Ông Khôi có yêu cầu tôi viết thư, song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy hay: Đạo tôi cấm làm như vậy và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu thế ông Khôi còn đêm mấy bức thư ra, biểu tôi ký tên vào, thì tôi lấy mấy cái thư ấy mà đốt đi trước mặt ông ấy".

Để bắt cha nhận tội, tối hôm sau, các quan dùng đủ cực hình kìm kẹp: Họ cho nung đỏ kìm sắt và cho kẹp hai lần vào hai đùi cha, rồi giữ nguyên cho tới khi kìm nguội. Một lần như vậy mùi thịt cháy xông lên khét lẹt, chính quân lính cũng phải quay mặt đi. Vị anh hùng đức tin hai lần ngất xỉu, nhưng vẫn giữ nguyên lời khai cũ. Họ đành nhốt cha vào cũi lại, rồi đưa về ngục.

Để tạo chứng gian buộc tội cha, các quan dỗ con trai Lê văn Khôi, hứa trả tự do nếu khai rằng "Ông thày Tây" giúp cha em khởi nghĩa. Nhưng cậu bé bảy tuổi ấy không biết nói dối, cậu nói cha Du hoàn toàn vô can, dầu cha cậu có hứa hẹn, khuyên dụ nhiều phen.

Cuối cùng, các quan đành xoay qua "tội giảng đạo". Họ nhắc đến chiếu chỉ nhà vua, và hứa ân xá nếu cha bước qua Thánh Giá. Cha Du cám ơn quan và tuyên bố sẵn sàng chịu cực hình, chứ không thể thất trung với Chúa. họ lại tiếp tục nhốt cha trong cũi. Sáu tuần lễ ở kinh đô đã trôi qua như thế. Các tín hữu ghé vào thăm và tiếp tế cho cha, đều thuật lại rằng: "Cha Du vẫn luôn vui vẻ và thường cầm cuốn sách nhỏ để đọc đêm ngày".

Thừa lệnh vua Minh Mạng, bản án cuối cùng được viết như sau: "Tây dương ma Sang kêu là danh Du, Gia Tô đạo trưởng, phò ngụy Khôi, nhận tội viết thư xin Hồng Mao (nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp ngụy thần. Lệnh xử bá đao".

Chết vì lý do tôn giáo

Sáng sớm 30.11.1835, bảy phát súng thần công nổ vang kêu gọi mọi người đến tham dự cuộc xử án. Cha Du, ba vị tướng của Khôi và em Lê Văn Viên được đưa ra khỏi cũi (phó Nhã đã chết trong ngục), mọi người chỉ được đóng khố, rồi dẫn đến cửa Ngọ Môn trình diện và phục lạy vua năm lạy. Vua Minh Mạng tỏ vẻ giận dữ ném chiếc cờ hiệu xuống đất. Đó là dấu không ân xá lần cuối, năm tội nhân được đưa ra pháp trường. Riêng cha Du, theo mật lệnh, được đưa vào tòa Tam Pháp tra khảo một lần nữa. Đọc nội dung cuộc tra khảo này, chúng ta thấy quan quân không đá động gì đến lý do chính trị cả!

Năm người lính cầm năm kìm nung đỏ kẹp vào bắp vế cha. phía sau là năm người lính khác cầm roi để năm lý hình không được phép nương tay. Ba lần kìm kẹp, thân thể cha Du có đủ 15 vết bỏng. Song song với cuộc tra tấn là mẫu đối thoại sau:

- Tại sao Gia Tô móc mắt mấy người gần chết?

- Không có, không bao giờ tôi thấy điều đó.

- Tại sao mấy người kết hôn lại phải đến các thày đạo trước bàn thờ?

- Họ đến để thày cả chúc phúc và chứng nhận trước mặt các tín hữu ở đó.

- Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự quái gở lắm phải không?

- Không, chẳng có những điều quái gở.

- Vậy sao có thứ bánh dùng làm bùa mê thuốc lú để phát cho những đứa đã xưng tội mà làm nó mê đạo đến thế?

Cha Du kiệt sức không thể trả lời được nữa. Lính dọn cho tử tội bữa ăn sau cùng, nhưng cha không dùng chi cả, chỉ lo cầu nguyện với Chúa. Sau đó, lính đưa các tử tội đến pháp trường tại họ Thợ Đúc bên sông Hương, cách kinh thành một dặm đường.

Chết như một tội nhân

Năm cây cọc đã cắm sẵn. Lính trói năm tử tội, cha Du bị trói vào cây cọc thứ hai. Ngài bị án "Phản loạn" và sẽ chết giữa những người phản loạn. Dân chúng bị đuổi lùi ra xa 30 thước. Cứ mỗi tử tội lại có ba lý hình, một cầm kìm, một cầm đao, còn một lo đếm số cho đủ 100 lát cắt. Trước đó, lính đã nhét vào miệng tội nhân và cột chặt, để không ai có thể kêu la được nữa.

Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán cha Du lật xuống che mặt, rồi cắt từng mảnh hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn, vị chứng nhân giẫy giụa, quằn quại, ngước mắt lên trời cao rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa đời. Tiếp theo quân lính cắt đầu của ngài, cởi dây, bổ thân mình làm bốn, và ném xuống biển chung với bốn tử tội kia. Còn thủ cấp cha, được đưa đi bêu ở nhiều nơi, rồi được trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống biển.

Ngày 30.11.1835 cũng là ngày kính thánh Anrê. Các thánh lễ hôm đó đều đọc lại đoạn sách Isaia (Is. 52,7): "Đẹp thay bước chân người rao giảng Tin Mừng" như lời chúc tụng vị thừa sai đã hoàn tất sứ mạng tông đồ của mình. Giáo Hội đã rất thận trọng khi nghiên cứu hồ sơ cha Marchand Du, căn cứ vào các buổi tra khảo, nhất là cuộc thẩm vấn cuối cùng, Giáo Hội khẳng định ngài đã hiến mạng sống vì đức tin. (2)

 

Đức Lêo XIII đã suy tôn linh mục Marchand Du lên bậc Chân Phước ngày 27.5.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

 

Nguồn từ tu viện Đa Minh

 

Trường thi tử Đạo.

Marchand Du thừa sai linh mục

Sinh Quý Hợi (1803) quê thực Paris

Từ nhỏ đã tỏ hướng đi

Thích làm linh mục cậu thì tỏ ra

 

Cùng các bạn bày ra dâng lễ

Giống như cha chủ tế hàng ngày

Thấy người lớn cậu dẹp ngay

Trò chơi của cậu những ngày còn thơ

 

Ðến khi lớn giấc mơ của cậu

Xin vào dòng học đậu làm cha

Kẹt vì lúc đó trong nhà

Bạc tiền túng thiếu cùng là nhân công

 

Cha mẹ cậu trước không đồng ý

Tưởng một hai thối chí cậu chăng

Ai ngờ ngày một gia tăng

Cuối cùng cha mẹ phải bằng lòng thôi

 

Vào Chủng viện tuổi đời mười tám

Mười năm trời theo bám chủng sinh

Phó tế lãnh chức quang vinh

Thầy xin sang nhập gia đình thừa sai

 

Nửa năm sau chức ngài linh mục

Xin Bề Trên tiếp tục hiến thân

Việt Nam truyền giáo đang cần

Cha xin tình nguyện lãnh phần ưu tiên

 

Ðường đi lại tàu thuyền cách trở

Chặng đi đầu tạm ở Macao

Việt Nam đợi dịp đi vào

Mùa xuân con cọp (1830) đẹp sao tới bờ

 

Việc cần nhất bây giờ học tiếng

Tại Lái Thiêu vốn liếng bổ sung

Ðọc thông nói thạo đủ dùng

Ðặt tên tiếng Việt kêu bằng cha Du

 

Ðến Campuchia mùa thu năm ấy

Ðể thăm quan và thấy giáo dân

Lái Thiêu Chủng viện đang cần

Xin cha về nhận cái phần giảng sư

 

Coi xứ đạo cũng từ ngày đó

Trong cả vùng cũng có hai lăm (25 xứ)

Hàng tuần cha phải đi thăm

Ban phép hoà giải hằng trăm tín đồ

 

Vua Minh Mạng lệnh vô lùng bắt

Giáo sĩ Âu cấm ngặt răn đe

Rủ nhau đi bộ đi ghe

Chạy sang nước Thái (Lan) chở che tạm thời

 

Chỉ cha Du ngài đòi ở lại

Coi giáo dân chẳng ngại hiểm nguy

Miền Nam trong lúc ấy thì

(Lê) Văn Khôi phản loạn muốn đi cầu ngài (cha Du)

 

Ý ông (Khôi) muốn góp tài chung sức

Phần giảng rao hết mực tự do

Ðạo đời hoà hợp khỏi lo

Nay đây mai đó trốn cho tội tình

 

Cha Du vẫn làm thinh không chịu

Ngài biết rằng chính hiệu của tôi

Ðến đây giảng đạo Chúa Trời

Ngoài ra không biết việc đời là chi

 

Lê Văn Khôi gặp khi túng thế

Ðem voi ra bồng bế cha vào

Tâm thư ngài được ban trao

Ðọc xong xin hãy ký vào giùm tôi

 

Cha Du đứng nghỉ ngơi một lúc

Rồi đem thư tiếp tục xé luôn

Ông Khôi lúc đó tuy buồn

Nhưng không phản ứng về luôn sảnh đường

 

Hơn hai năm bức tường vây hãm

Quân nhà vua can đảm phá thành

Nguỵ quân mấy bữa tan tành

Văn Khôi bị bắt đồng hành cha Du

 

Ðem về kinh căm thù kết tội

Buộc cho ngài kết nối nguỵ quân

Gởi thư cầu viện xa gần

Cùng Khôi cấu kết mật thân chống triều

 

Cha Du nói một điều giảng đạo

Kẹp kìm tra cố tạo tội thêm

Cuối cùng bản án như nêm

Tây dương tả đạo có kèm tên Du

 

Phò Khôi nguỵ hận thù đáng chết

Xử bá đao chưa hết tội mi

Cha Du chẳng nói năng gì

Ất Mùi (1835) tử đạo hồn đi lên Trời

 

Trong sử sách ấy thời ghi chép

Mình cha Du chịu chết bá đao

Canh Tý (1900) Toà Thánh ban trao

Suy tôn Chân phước bước vào Thiên cung

Lời bất hủ: Tướng Lê Văn Khôi (nghịch với Triều Nguyễn) đã ép cha Du phải vào thành. Tướng Khôi có ý mua chuộc cha để cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: "Tôi chỉ biết việc đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành". Cha Du bị bắt và dẫn giải về triều đình Huế, các quan hỏi cung: "Có phải người gửi thư vô Xiêm, cùng gửi thư cho quân Giatô ở Ðồng Nai, biểu nó đến giúp nguỵ không?". Cha Du đáp: "Ông Khôi có biểu tôi viết thư song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy hay: đạo tôi cấm làm như vậy, và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu thế ông Khôi còn đem mấy bức thư ra, biểu tôi ký tên vào, thì tôi lấy mấy cái thư ấy, mà đốt đi trước mặt ông ấy". Bản án thừa lệnh vua Minh Mạng viết như sau: "Tây Dương Ma Sang kêu là danh Du, Giatô đạo trưởng, phò nguỵ Khôi, nhận tội có viết thư sang Hồng Mao (tức nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp nguỵ thần, lệnh xử bá đao". Cha Du còn tra hỏi lần chót rồi mới xử. Hỏi: "Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự quái gở lắm phải không?". Ðáp: "Không, chẳng hề có những điều quái gở". "Vậy sao có thứ bánh làm bùa mê thuốc lú, để phát cho những đứa đã xưng tội mà làm nó mê đạo đến thế?". Cha Du kiệt sức không trả lời được nữa.